Nỗi buồn bên xóm nghề đan lọp cua

Thanh Quân
Thanh Quân
Từng có hàng trăm hộ sống bằng việc đan lọp cua đồng, xóm nghề ở khóm Bình Thành B, phường Hồng Ngự (Đồng Tháp) nay chỉ còn chưa tới 10 hộ bám trụ, níu giữ nghề truyền thống quê hương.

Xóm nghề thưa dần theo con nước

Men theo những con đường nhỏ vùng biên, chúng tôi tìm đến khóm Bình Thành B, phường Hồng Ngự, nơi nằm gần ngã ba sông Sở Hạ. Đây từng là địa danh nổi tiếng với nghề làm lọp cua đồng - một nghề thủ công gắn liền với nhịp sống sông nước của người dân vùng đầu nguồn Đồng Tháp.

Nỗi buồn bên xóm nghề lọp cua - Ảnh 1.

Bà Bùi Thị Hương, một trong số ít người vẫn còn gắn bó với nghề đan lọp cua

ẢNH: THANH QUÂN

Trên đường đi, hỏi thăm người dân về xóm đan lọp cua, hầu như ai cũng biết. Thế nhưng, khi được hỏi liệu người dân còn duy trì nghề hay không, nhiều người lại ngập ngừng: "Giờ không biết xóm đó còn hành nghề không nữa".

Đến đầu khóm Bình Thành B, khi được người dân xác nhận vẫn còn hộ làm nghề đan lọp cua, chúng tôi mới phần nào yên tâm. Nhưng để tìm được nhà của những người thợ còn bám nghề lại không dễ, bởi số hộ duy trì sản xuất đã thưa thớt hơn nhiều so với trước.

Giữa trưa, chúng tôi ghé nhà bà Bùi Thị Hương (56 tuổi), người dân địa phương quen gọi là "cô Tám Hương". Dưới bụi tre ven sông sau nhà, cả gia đình bà đang quây quần đan lọp cua để kịp giao cho khách.

Không có xưởng sản xuất rộng lớn hay máy móc hiện đại, công việc vẫn diễn ra theo cách quen thuộc từ bao năm nay. Những đôi tay thoăn thoắt làm từng công đoạn, người này nối việc người kia. Cô Tám Hương vừa đan, vừa kể về những ngày làm ăn khấm khá, giọng có lúc lại chùng xuống trước cảnh xóm nghề ngày càng vắng người.

Nỗi buồn bên xóm nghề lọp cua - Ảnh 2.

Những người đan lọp cua ngày càng vơi dần nên số lượng bán ra cũng rất ít

ẢNH: THANH QUÂN

"Mấy năm trước làm nghề này còn có dư, giờ kiếm ăn qua ngày còn khó. Ngày xưa vào mùa bán được hơn 1.000 cái, giờ 500 cái bán còn khó", bà Hương nói. Theo bà, đầu ra của lọp cua ngày càng thu hẹp bởi người đi bắt cua không còn đông như trước. Nhiều người trẻ rời quê lên TP.HCM và các nơi khác làm công ty, ít ai còn muốn theo đuổi công việc vốn đòi hỏi sự kiên nhẫn nhưng thu nhập bấp bênh này.

Nhìn về phía bờ sông, chỉ tay xuống khoảng đất ven nhà, nơi gia đình đang ngồi đan lọp cua, cô Tám Hương nhắc đến một thay đổi khác mà người dân nơi đây cảm nhận rõ qua từng năm. "Mấy năm trước làm gì có chỗ ngồi vầy, nước ngập hết trơn, mà nay nước về thấp, tới giờ vẫn chưa thấy gì", bà nói.

 Với những người gắn bó lâu năm cùng đồng ruộng, sông rạch, sự thay đổi của mùa nước còn kéo theo những biến động trong cách mưu sinh. Khi nguồn lợi thủy sản suy giảm, những chiếc lọp từng là vật dụng quen thuộc của nhiều gia đình cũng dần mất đi vị trí trong đời sống thường ngày.

Mười chiếc lọp, chỉ còn vài con cua

Ngồi bên cạnh bà Hương, chồng bà - ông Trần Văn Đặng (60 tuổi) tiếp lời kể, ngày trước, người đi đặt lọp cua có thể bắt được hơn 40 kg cua mỗi ngày. Còn bây giờ, kiếm được 15 kg đã là chuyện không dễ. "Hồi đó dỡ lọp, có cái hơn một nửa đầy cua. Thế mà nay có khi dỡ 10 cái lọp được có 5 - 7 con", ông Đặng buồn nói.

Nỗi buồn bên xóm nghề lọp cua - Ảnh 3.

Từ hơn 100 hộ, giờ làng nghề đan lọp cua chưa đến 10 hộ giữ nghề

ẢNH: THANH QUÂN

Sự thưa vắng của cua đồng khiến công sức người đi bắt cua tăng lên, trong khi lượng cua thu được giảm mạnh. Giá cua cũng không còn hấp dẫn như trước, khiến nhiều người dần bỏ nghề. Khi người đặt lọp ít đi, người làm lọp cũng mất dần khách hàng. Hai đầu của một nghề mưu sinh cứ thế thu hẹp, kéo theo những khó khăn chồng chất cho các hộ còn bám trụ.

Ông Đặng nhớ rằng đã có thời gian từ đầu đến cuối xóm, nhà nào cũng đan lọp cua để bán. Nghề này từng đem lại nguồn thu nhập cho hơn 100 hộ, tạo nên nét riêng của một xóm nhỏ bên dòng Sở Hạ.

Vậy mà nay, cả khóm chỉ còn chưa tới 10 hộ duy trì công việc. Những gia đình từng sống nhờ nghề lần lượt chuyển sang sinh kế khác. Người lớn tuổi còn sức thì cố làm thêm, người trẻ chọn việc làm công ty với mong muốn có thu nhập đều đặn hơn. "Ngày trước có khoảng 40 - 50 xuồng đi đặt lọp cua, giờ còn không tới 20 xuồng", cô Tám Hương cho biết.

Đằng sau sự thay đổi ấy là cả một chuỗi sinh kế đang dần đứt đoạn. Người đi đặt lọp không còn đủ thu nhập để bám nghề, người đan lọp không có nhiều đơn hàng để duy trì sản xuất. Khi lớp người lớn tuổi không còn sức lao động, những người trẻ trong gia đình cũng ít có động lực tiếp nối.

Nghề đan lọp cua vì thế không chỉ đối mặt với khó khăn về đầu ra, mà còn đứng trước nguy cơ thiếu người kế tục. Những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác, từ cách lựa chọn vật liệu đến thao tác làm từng chiếc lọp, có thể mất dần khi người ta không còn đủ điều kiện duy trì công việc.

Giữ nghề giữa những đổi thay

Trong số ít người còn đan lọp cua ở khóm Bình Thành B, chị Bùi Thị Ngân (41 tuổi) được xem là người trẻ nhất theo nghề. Ở độ tuổi mà nhiều người đã chọn công việc khác để ổn định cuộc sống, chị vẫn gắn bó với những chiếc lọp cua thủ công.

Nỗi buồn bên xóm nghề lọp cua - Ảnh 4.

Trước đây mỗi đêm người đi lọp cua kiếm được hơn 40 kg, nhưng nay gần như không thể kiếm được 20 kg

ẢNH: THANH QUÂN

Chị Ngân kể đã không ít lần nghĩ đến chuyện bỏ nghề. Công việc ngày càng khó khăn, khách hàng ít đi, trong khi thu nhập không đủ hấp dẫn để người trẻ kiên trì. "Trước đây tôi cũng nhiều lần nghĩ hay là thôi, mình làm nghề khác. Nhưng rồi nghĩ nếu người trẻ nào cũng vậy thì còn gì làng nghề nữa. Nên tôi mới cố gắng bám nghề", chị Ngân chia sẻ.

Lời tâm sự của người phụ nữ 41 tuổi cũng là nỗi lòng chung của những hộ còn duy trì nghề đan lọp cua ở Hồng Ngự. Họ hiểu rằng chỉ dựa vào sức người và những đơn hàng ít ỏi như hiện nay, việc giữ nghề sẽ ngày càng khó. Nhưng nếu tất cả đều bỏ cuộc, những chiếc lọp cua từng gắn bó với đời sống người dân vùng đầu nguồn có thể chỉ còn trong ký ức. 

"Giờ tôi chỉ mong nhà nước hỗ trợ gì đó để làng nghề này được hồi sinh trở lại, chứ nhìn như thế này thật sự cũng rất buồn", chị Ngân bộc bạch.

Mong muốn ấy đặt ra câu hỏi về tương lai của một nghề thủ công gắn với sinh kế địa phương. Khi nguồn lợi cua đồng suy giảm, việc khôi phục làng nghề không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực của những người thợ. Đầu ra cho sản phẩm, khả năng duy trì nguồn nguyên liệu, sự kết nối với thị trường và việc truyền nghề cho lớp trẻ đều là những vấn đề cần được tính đến nếu muốn nghề có cơ hội tồn tại lâu dài.

Dưới bụi tre ven sông, cô Tám Hương và gia đình vẫn cặm cụi với những chiếc lọp cua. Công việc diễn ra bình lặng giữa buổi trưa, chẳng có gì khác biệt so với nhịp lao động thường ngày của một gia đình miền quê. Chỉ có điều, phía sau từng chiếc lọp là nỗi lo về những đơn hàng ngày càng ít và nỗi niềm về một nghề truyền thống đang dần vắng bóng người làm.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.