Cách đây 1 năm, bà chia sẻ thông tin về việc nghệ nhân gốm Chăm Đàng Thị Tám không làm gốm nữa, con cháu trong nhà cũng chuyển nghề làm bánh tráng. Bà Tám là đại diện duy nhất của cộng đồng gốm Chăm sang Ma Rốc hồi năm 2022 tham gia bảo vệ hồ sơ di sản "Nghệ thuật làm gốm của người Chăm".

TS Nguyễn Thị Thu Trang và nghệ nhân Đàng Thị Tám tại Ma Rốc năm 2022, khi Việt Nam trình hồ sơ nghệ thuật làm gốm của người Chăm
ẢNH: NVCC
TS Nguyễn Thị Thu Trang: Khi chúng tôi phỏng vấn sâu hồi năm 2025, nghệ nhân Đàng Thị Tám nói: "Má bỏ gốm, bỏ lò vì không làm được, không bán được, giờ chỉ còn cái cũ bán nốt. Sân nhà má lát lại để làm bánh tráng bán lên TP.HCM". Khi sân nung biến mất, quan hệ giữa con người, nơi chốn và thực hành cũng chấm dứt.
Câu chuyện nghệ nhân gốm Chăm còn nhiều khoảng trống trong khi Văn kiện Hà Nội về tính xác thực di sản 2026 của UNESCO xác định nghệ nhân là yếu tố quan trọng của di sản, của tính xác thực.
Trường hợp cố Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Đàng Xem (mất năm 2019) cho thấy một khoảng trống khác. Cũng như nhiều nghệ nhân Bàu Trúc khác, ông không ghi tên mình hay tên làng nghề lên sản phẩm, cũng không nhận được hướng dẫn nào từ bên ngoài. Vì vậy, sau khi ông mất, rất khó tìm lại những sản phẩm độc bản của ông vì không có căn cứ xác định "tính xác thực" của sản phẩm.
Vợ NNƯT Đàng Xem bán sản phẩm của ông với giá 50.000 đồng/món (năm 2019), cùng thời điểm một sản phẩm có kích cỡ tương tự của một học trò đời thứ hai (học trò của học trò) của một nghệ nhân gốm Bizen (Nhật Bản) có giá 6.000.000 đồng, gấp 120 lần. Khoảng cách ấy không nói rằng gốm Bàu Trúc kém giá trị, mà cho thấy gốm Bizen có một hệ thống ghi nhận quan hệ giữa tác phẩm, người làm và dòng truyền thầy - trò, còn gốm Bàu Trúc thì không. Văn kiện Hà Nội có đoạn yêu cầu xét đến xuất xứ và sự xác minh bằng chứng. Thiếu điều đó, quan hệ giữa tác phẩm và nghệ nhân mất đi cùng người làm, và dự án Bảo tàng Gốm Chăm có vốn đầu tư 20 tỉ đồng của tỉnh Khánh Hòa sẽ gặp khó khăn.
Với ông Đàng Xem, danh hiệu NNƯT được truy tặng không chuyển thành giá trị gia tăng cho sản phẩm, và sự truyền dạy cũng không còn nữa. Danh hiệu khi đó chỉ là sự công nhận mang tính biểu tượng…





Cần có giải pháp từng bước phục hồi sức sống cho nghệ thuật làm gốm của người Chăm
Ảnh: Bá Duy
Chúng ta nói đến chuyện đưa di sản làm du lịch. Theo Văn kiện Hà Nội, việc đưa gốm Chăm vào thị trường và du lịch cần lưu ý điều gì, thưa bà?
Cuộc thi thiết kế gốm Chăm 2024 nhận mẫu của 13 tác giả trong và ngoài tỉnh Khánh Hòa. Khi tiêu chí và ban giám khảo đến từ bên ngoài, "bản sắc Chăm" có thể được hiểu theo nhãn quan của người mua hơn là của người làm. Những sản phẩm được coi là tiêu biểu như tháp Chăm gốm, đèn Shiva cũng đặt ra câu hỏi về việc dùng biểu tượng tín ngưỡng làm hàng lưu niệm. Tinh thần Văn kiện lưu ý việc đánh giá này phải do cộng đồng Chăm tự làm.
Du lịch cũng thường dựa vào việc phục hồi nghi lễ, tái hiện nghi lễ. Nghi lễ cúng tổ nghề Po Klaong Can có ý nghĩa thiêng. Theo tinh thần văn kiện, khi tri thức là thiêng, người giữ di sản phải được tham vấn về cách sử dụng.
Chúng ta đặt mục tiêu đưa gốm Chăm từ danh sách di sản cần bảo vệ khẩn cấp sang danh sách di sản đại diện do UNESCO ghi danh. Hiện tại, các thông số về di sản này cho thấy khả năng thực hiện thế nào, thưa bà?
Sau 4 năm ghi danh, gốm Chăm còn cần bảo vệ khẩn cấp hơn. Số liệu năm 2022 cho thấy số người thực hành ở Bàu Trúc vẫn tiếp tục giảm, từ 455 người (năm 2019) xuống 360 người (năm 2024), và chỉ còn 6 nghệ nhân có khả năng truyền dạy.
Việc mở lớp truyền dạy nghề theo đề án bảo tồn cũng ghi nhận hiện trạng "đa phần người học vào học được thời gian ngắn thì bỏ". Trong khi đó, theo tinh thần Văn kiện Hà Nội, số lớp và số học viên không tự chứng minh rằng việc trao truyền đang tiếp nối, cái cần là bao nhiêu học viên còn làm gốm sau dăm năm, bao nhiêu người có thể trở thành người truyền dạy. Thêm vào đó, nếu di sản vốn trao truyền trong gia đình nay lại truyền qua lớp học, giáo trình, câu lạc bộ... sẽ dẫn đến việc tri thức chuyển từ "của dòng họ" thành "của chương trình". Văn kiện cũng đặt câu hỏi về việc ai quyết định phương thức truyền dạy, và thiết chế gia đình, dòng họ có được tôn trọng hay không.
Bà có khuyến cáo gì để di sản gốm Chăm có thể dần dần ra khỏi danh sách cần bảo vệ khẩn cấp, trở thành di sản đại diện như chúng ta mong muốn?
Chúng ta không nên đặt trước mốc chuyển danh sách. Ta chỉ đề nghị chuyển danh sách khi các chỉ báo sức sống đã đảo chiều ổn định và cộng đồng đồng thuận.
Chúng ta cũng cần cân đối lại nguồn lực: tăng kinh phí cho truyền dạy, quỹ hỗ trợ nghệ nhân và vùng nguyên liệu, có thể bằng cách lùi hoặc thu nhỏ một số hạng mục cảnh quan, thương mại. Bên cạnh đó, cần bảo vệ hệ sinh thái nghề, coi vùng đất sét ven sông Quao, cát sông Lu, nguồn củi, hồ Bàu Súc và sân nung là một phần của di sản; bảo đảm quyền tiếp cận nguồn đất của thợ gốm; đánh giá tác động di sản trước các dự án đô thị tại khu vực này.
Ngoài ra, cần hỗ trợ trao truyền trong gia đình; bên cạnh các lớp học, cần hỗ trợ trực tiếp các cặp mẹ - con, bà - cháu đang truyền nghề tại nhà, để nghệ nhân cùng quyết định nội dung và phương pháp, theo dõi tỷ lệ học viên còn hành nghề…
Bên cạnh đó là hỗ trợ gắn danh hiệu với sinh kế và ghi nhận tác phẩm. Đo hiệu quả bằng thu nhập của người có danh hiệu chứ không bằng số người được phong tặng; ưu tiên đặt hàng trực tiếp từ các hộ làm gốm; xét tặng danh hiệu khi nghệ nhân còn có thể truyền dạy. Hỗ trợ nghệ nhân tự chọn dấu hiệu riêng trên sản phẩm, lập sổ tác phẩm, và sưu tầm ngay từ bây giờ tác phẩm của các nghệ nhân cao tuổi cho Bảo tàng Gốm Chăm.










Bình luận (0)