Yêu cầu 'dạy thật, học thật, thi thật' đang được đặt ra nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Muốn dạy thật, người thầy phải có trình độ thật, có thời gian hướng dẫn sinh viên và được bảo đảm điều kiện giảng dạy. Muốn trò học thật, phải có chương trình phù hợp, học liệu, chỗ thực hành và những nhiệm vụ đòi hỏi nỗ lực thực sự. Không thể chỉ yêu cầu thầy và trò làm thật mà thiếu những điều kiện để thực hiện.

Yêu cầu 'dạy thật, học thật, thi thật' đang được đặt ra nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học
ảnh: Đào Ngọc Thạch
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc tăng: câu hỏi về tính thực chất của việc dạy học và thi
Trong bối cảnh ấy, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc tăng cao bất thường ở một số trường khiến dư luận đặt câu hỏi về tính thực chất của việc dạy, học và thi. Hoài nghi ấy cần được giải đáp bằng bằng chứng: sinh viên tiến bộ đến đâu, chất lượng giảng dạy cải thiện thế nào, hay kết quả tăng chủ yếu do cách chấm, quy đổi và xếp loại?
Đây không phải chuyện riêng Việt Nam. Tại các cơ sở giáo dục đại học ở Anh, tỷ lệ bằng hạng nhất tăng từ 15,8% năm học 2010–2011 lên 28,8% năm 2023–2024, theo Office for Students. Cơ quan này dùng mô hình thống kê xét đầu vào và một số đặc điểm người học để tìm phần gia tăng chưa giải thích được. Phần ấy là tín hiệu cần điều tra, không tự động chứng minh giảng viên chấm dễ. Bài học nằm ở cách tìm bằng chứng trước khi kết luận có hiện tượng thổi điểm lên hay không?
Sinh viên có thể học tốt hơn nhờ đầu vào tốt, học liệu thuận tiện, phương pháp dạy hiệu quả và khả năng tự học và tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc tăng lên cũng là hợp lý. Tuy nhiên, nếu kết quả tăng mạnh qua nhiều khóa, nhà trường cần giải thích chất lượng đào tạo đã cải thiện ở đâu, bằng chứng nào xác nhận.
Muốn đào tạo được nhiều sinh viên xuất sắc một cách bền vững, phải có giảng viên giỏi và điều kiện dạy học tương xứng. Một sinh viên có thể tự vượt lên trong hoàn cảnh thiếu thốn, nhưng trường không thể lấy ngoại lệ ấy để giải thích thành tích của cả hệ thống. Trình độ giảng viên cũng cần thể hiện qua việc thiết kế nhiệm vụ, hướng dẫn, phản hồi và đánh giá; bằng tiến sĩ hay số bài báo chưa trả lời hết những yêu cầu này.
Sự tiến bộ còn cần được nhìn từ điểm xuất phát. Sinh viên đầu vào cao đạt điểm tốt chưa đủ chứng minh trường tạo thêm nhiều giá trị. Người xuất phát thấp hơn nhưng sau vài năm biết phân tích, làm việc độc lập và giải quyết vấn đề nghề nghiệp có thể đã tiến rất xa. Theo dõi những nhiệm vụ tương đương ở các giai đoạn sẽ có ý nghĩa hơn việc chỉ đếm bằng đẹp cuối khóa.
Ngay việc cho 8 hay 9 điểm cũng cần giải thích mạch lạc. Bài đạt 9 hơn ở độ chính xác, chiều sâu lập luận hay khả năng vận dụng? Nếu hai giảng viên hiểu khác nhau về mức điểm ấy, sự chênh lệch có thể đến từ người chấm. Cần tiêu chí rõ, bài mẫu minh họa và trao đổi chuyên môn để thống nhất cách vận dụng. Chấm đến 1/4 điểm không bảo đảm chính xác khi căn cứ phân biệt còn mơ hồ.
Cách quy đổi cũng phải được xem xét. Khi nhiều mức điểm trên thang 10 cùng quy về một mức trên thang 4, thông tin phân biệt bị thu hẹp. So sánh giữa các khóa, các trường phải kiểm tra quy tắc tính điểm, cơ cấu ngành và số sinh viên trong mẫu thống kê. Không thể đặt các tỷ lệ cạnh nhau rồi coi như đang dùng cùng một thước đo.
Ngoài giảng đường, yêu cầu bằng giỏi, xuất sắc khi tuyển dụng, xét học bổng hoặc học tiếp có thể tạo sức ép chạy theo xếp loại. Trường cũng chịu áp lực thu hút người học và chứng minh chất lượng. Những động lực ấy cần được nhận diện, tránh biến điểm số thành công cụ quảng bá. Nếu doanh nghiệp phải kiểm tra lại mọi năng lực mà tấm bằng đáng lẽ đã bảo chứng, chi phí tuyển dụng tăng và người học thực chất cũng chịu thiệt.

Bằng xuất sắc, giỏi chỉ giữ được giá trị khi người cấp bằng giải thích được sự xuất sắc ấy
ảnh: yến Thi
Giải pháp đảm bảo độ tin cậy của bằng cấp
Bộ GD-ĐT đứng trước bài toán khó: tôn trọng tự chủ chuyên môn nhưng vẫn bảo vệ độ tin cậy của văn bằng. Lối ra là yêu cầu trường công khai tiêu chí, giải trình biến động và tổ chức thẩm định độc lập trên mẫu bài thi, đồ án, sản phẩm tốt nghiệp. Kết luận cần dựa vào bằng chứng chuyên môn, không nên chỉ căn cứ vào tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc tăng để hạn chế quyền tự chủ của trường.
Áp lực tài chính có thể khiến các trường cố tuyển đủ chỉ tiêu để bảo đảm nguồn thu. Nhưng khi số sinh viên tăng mà đội ngũ giảng viên và điều kiện dạy học không tăng tương xứng, chất lượng khó được nâng lên. Giảng viên phải phụ trách quá nhiều sinh viên sẽ ít thời gian đọc bài, phản hồi, hướng dẫn thực hành và kiểm chứng năng lực từng người.
Bộ GD-ĐT cần rà soát tỷ lệ sinh viên/giảng viên theo đặc thù từng ngành, gắn với khối lượng giảng dạy thực tế và điều kiện thực hành, từ đó có chính sách về quy mô tuyển sinh, phát triển đội ngũ và đầu tư phù hợp.
Sinh viên có quyền được ghi nhận tiến bộ; trường phải chứng minh năng lực đứng sau điểm số. Bằng xuất sắc chỉ giữ được giá trị khi người cấp bằng giải thích được sự xuất sắc ấy.










Bình luận (0)