Có sự tương đồng về định hướng ra đề và ma trận kiến thức
Theo thầy Trần Ngọc Minh, Tổ trưởng Tổ toán - tin, Trường THPT Quỳnh Lưu 1 (Nghệ An), đề thi lại môn toán kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 dành cho các thí sinh tại điểm thi Trường THPT chuyên Tuyên Quang ngày 14.8 (sau đây gọi là đề lần 2) bám sát yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, cấu trúc ổn định và không có nội dung vượt chương trình.
Qua đối chiếu, đề thi lần 1 và đề thi lần 2 khá tương đồng về cấu trúc chung, các mạch kiến thức lớn và hướng xây dựng câu hỏi. Tuy nhiên, mức độ khó và khả năng phân hóa giữa hai đề có sự khác biệt nhất định ở từng vùng điểm.
Ở nhóm câu hỏi cơ bản, tương ứng vùng điểm khoảng 5 - 6, hai đề có độ khó khá tương đương. Các câu hỏi chủ yếu kiểm tra kiến thức nền tảng của chương trình, qua đó đáp ứng mục tiêu xét công nhận tốt nghiệp THPT.
Từ vùng điểm 6 - 8, đề lần 2 có xu hướng tăng nhẹ độ phức tạp. Một số câu không còn đi trực tiếp từ dữ kiện đến phép tính mà yêu cầu học sinh thực hiện thêm bước thiết lập mô hình, xác định điều kiện hoặc xử lý các đại lượng trung gian. Điều này phần nào làm giảm lợi thế của thí sinh khi các em đã biết cấu trúc và xu hướng ra đề từ đợt 1.
Ở nhóm câu phân hóa cao, đặc biệt vùng 8,5 - 10 điểm, đề lần 2 xuất hiện một số bài toán mới và có độ khó nhỉnh hơn. Vì vậy, mục tiêu đạt điểm tuyệt đối trở nên thử thách hơn. Tuy nhiên, với học sinh khá, giỏi đã nghiên cứu kỹ đề lần 1, việc quen với cách đặt vấn đề thực tế, mô hình hóa, tích phân và tối ưu vẫn đem lại lợi thế nhất định trong nhận dạng dạng toán, lựa chọn hướng giải và phân bổ thời gian.
Thầy Minh nhận định: "Đề thi lần 1 và đề thi lần 2 có sự thống nhất khá cao về cấu trúc chung và các mạch kiến thức chủ đạo. Đáng chú ý, ở phần trả lời ngắn, sáu nhóm tư duy lớn của đề lần 1 tiếp tục xuất hiện trong đề lần 2, nhưng thứ tự câu hỏi, ngữ liệu và cách khai thác đã được thay đổi.
Vì vậy, học sinh đã nghiên cứu kỹ đề lần 1 có thể định hình được phần nào những dạng tư duy cần chuẩn bị, nhưng không thể chỉ học theo lời giải của đề cũ để làm được đề lần 2. Sự tương đồng về ma trận là hợp lý khi cả hai đề cùng phục vụ một kỳ thi và cùng phải đáp ứng những yêu cầu đánh giá của Chương trình giáo dục phổ thông 2018".
Đề lần 2 vừa tạo cơ hội, vừa đặt ra thách thức
Theo thầy Minh, nhìn đủ 6 câu phần trả lời ngắn (là phần phân hóa học sinh giỏi) có thể thấy đề lần 2 không lặp lại câu hỏi của đề lần 1, nhưng khá tương đồng về các nhóm năng lực và dạng tư duy được kiểm tra. Các mạch hình học không gian, tổ hợp, xác suất, tích phân, mô hình hóa thực tế và tối ưu tiếp tục được sử dụng, song vị trí câu hỏi được hoán đổi, dữ kiện được thay mới và một số bài được nâng độ phức tạp.
Độ khó của đề lần 2 vì thế chủ yếu đến từ cách khai thác bài toán và số bước xử lý, chứ không đến từ kiến thức lạ hoặc nội dung vượt chương trình. Đặc biệt, các bài tổ hợp - xác suất, mô hình hóa tối ưu và hình học không gian tạo ra sự phân hóa rõ đối với nhóm học sinh hướng đến điểm cao.
Thầy Minh cho rằng, thí sinh thi đợt 2 có một lợi thế nhất định vì đã biết cấu trúc và xu hướng ra đề của đợt 1, nhất là với các bài toán thực tế, tích phân ứng dụng và tối ưu. Khi đã quen với cách đặt vấn đề, học sinh có thể nhận dạng bài nhanh hơn, bớt thời gian làm quen và chủ động hơn trong chiến thuật làm bài.
Tuy nhiên, đề đợt 2 không dễ hơn đợt 1. Một số câu ở phần trả lời ngắn có độ khó cao, nổi bật là tổ hợp - xác suất, đòi hỏi học sinh phải phân chia trường hợp cẩn thận và có tư duy cấu trúc tốt. Bên cạnh đó, các bài toán hình học và tối ưu cũng yêu cầu nhiều bước xử lý.
Thầy Minh kết luận: "Nhìn chung, hai đề khá tương đồng về cấu trúc, ma trận kiến thức và hướng xây dựng câu hỏi. Học sinh đã nghiên cứu kỹ đề đợt 1 rõ ràng có lợi thế về tâm lý, khả năng nhận dạng dạng toán và phân bổ thời gian. Tuy nhiên, lợi thế đó chủ yếu giúp các em tiếp cận bài nhanh hơn chứ không đồng nghĩa với việc được gặp lại bài cũ.
Ở nhóm câu phân hóa cao, nhất là vùng 8,5 - 10 điểm, đề đợt 2 có những câu mới và khó hơn. Theo tôi, đề đợt 2 khó nhỉnh hơn đề đợt 1, nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu phân hóa và sự tương đương cần thiết giữa hai đợt thi".
So sánh chi tiết phần câu trả lời ngắn của 2 đề
Đi sâu vào cả 6 câu trả lời ngắn ở Phần III, thầy Minh cho rằng sự tương đồng giữa hai đề thể hiện khá rõ ở các mạch kiến thức, nhưng mỗi mạch đều có sự thay đổi về bối cảnh, vị trí hoặc cách khai thác. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, với hình học không gian, đề lần 1 yêu cầu tính khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng trong hình lập phương. Sang đề lần 2, nội dung này được chuyển sang câu 6 Phần III, mã đề 0110, với yêu cầu tính thể tích một tứ diện có ba cặp cạnh đối bằng nhau. Như vậy, cùng thuộc hình học không gian nhưng đề lần 2 chuyển từ kỹ thuật tính khoảng cách sang nhận dạng cấu trúc đối xứng và tính thể tích, đòi hỏi học sinh có khả năng lựa chọn mô hình phù hợp.
Thứ hai, với tổ hợp thuần túy, đề lần 1 đưa ra bài toán điền 15 số vào một bảng bậc thang với điều kiện liên quan đến hiệu của các số trên cùng hàng, cùng cột. Ở đề lần 2, câu 4 Phần III chuyển sang bài toán tô màu bảng (5x5) bằng bốn màu sao cho các ô chung cạnh hoặc chung đỉnh phải khác màu. Hai câu đều kiểm tra khả năng nhận ra cấu trúc và đếm số cấu hình, nhưng cách khai thác ở đề lần 2 thiên nhiều hơn về phát hiện quy luật của lưới.
Thứ ba, với ứng dụng tích phân để tính thể tích khối tròn xoay, đây là cặp câu có mức tương đồng khá rõ. Đề lần 1 sử dụng một vật thể tạo bởi elip rồi khoan một lỗ hình trụ; đề lần 2, tại câu 3 Phần III mã đề 0110, sử dụng miền phẳng giới hạn bởi một elip và một đường tròn rồi quay quanh trục hoành. Cả hai đều yêu cầu học sinh xác định đúng miền, bán kính ngoài - bán kính trong và thiết lập tích phân thể tích. Điểm thay đổi chủ yếu nằm ở hình dạng miền và việc tìm giao điểm trước khi tính.
Thứ tư, với tổ hợp - xác suất, đề lần 1 yêu cầu tính xác suất khi bố trí các bóng đèn đỏ và xanh trên 12 đỉnh của một đa giác theo những điều kiện cho trước. Sang đề lần 2, câu 1 Phần III mã đề 0110 chuyển thành bài toán chọn 8 vị trí trên bàn cờ (6x6), đồng thời phải thỏa mãn các ràng buộc về hàng, cột và quan hệ giữa các quân cờ. Đây là một trong những câu khó của đề lần 2, bởi học sinh phải nhận dạng đúng cấu trúc phân bố rồi đếm các trường hợp một cách chặt chẽ trước khi tính xác suất.
Thứ năm, với bài toán mô hình hóa tuyến tính, đề lần 1 cho bảng số liệu bán rau quả, từ đó học sinh phải xác định đơn giá các mặt hàng rồi tính doanh thu của một ngày khác. Đề lần 2, tại câu 2 Phần III, chuyển sang bài toán vận tải: lựa chọn số xe của hai loại để đáp ứng đồng thời ba yêu cầu về khối lượng hàng hóa và làm cho chi phí nhỏ nhất. So với đề lần 1, câu hỏi lần 2 đòi hỏi nhiều hơn ở khâu thiết lập hệ bất phương trình, xét điều kiện nguyên và tối ưu hóa phương án.
Thứ sáu, với ứng dụng đạo hàm trong bài toán kinh tế, cả hai đề đều khai thác bài toán tối ưu lợi nhuận. Đề lần 1 cho hàm chi phí và doanh thu rồi yêu cầu tìm lợi nhuận lớn nhất; đề lần 2, tại câu 5 Phần III mã đề 0110, bổ sung yếu tố thuế 5% doanh thu và chi phí sản xuất theo từng sản phẩm. Bản chất toán học vẫn là xây dựng hàm lợi nhuận và tìm giá trị lớn nhất, vì vậy đây cũng là một trong những dạng mà học sinh đã nghiên cứu kỹ đề lần 1 có thể nhận diện hướng làm khá nhanh.
Xem lại đề thi toán lần 1 ở đây.
Xem chi tiết đề thi môn toán mã đề 0110 lần 2 dưới đây:

ẢNH: LONG QUYỀN

ẢNH: LONG QUYỀN

ẢNH: LONG QUYỀN

ẢNH: LONG QUYỀN
Bình luận (0)