VĂN MINH MIỆT VƯỜN
Nghề nông vốn dĩ mang cái cực vì phải "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", nhưng thiên nhiên cũng ưu đãi vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nên người dân "làm chơi ăn thiệt", cái cực phần nào vơi đi, nhiều thế hệ đến đây tạo sự nghiệp. Từ nghề làm ruộng vốn quen, tuy có cái ăn cái mặc, nhưng con cái ít nhiều chịu thua thiệt về học hành nên người dân dần phấn đấu lên bậc cao của nông nghiệp văn minh, tiên tiến là làm vườn, làm kiểng cảnh.
Không bà mẹ nào không thấy được sự cơ cực của đời mình nên họ chỉ ước mơ đơn giản: Mẹ mong gả thiếp về vườn/Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh là đã mãn nguyện cho con cái mình. Bởi việc làm vườn đã giúp các thế hệ sau thoát được cái nghiệp chân lấm tay bùn.
Làm vườn chính là làm nông nghiệp bậc cao, có sự nhàn nhã, tránh được nắng mưa, lại tạo ra năng suất thu nhập hơn cho gia đình. Từ đó, con cái được hưởng thành quả cây trái, có điều kiện tiếp cận văn minh thị thành trong học tập, giao lưu và mua sắm tiện nghi vật chất. Mặt khác, nhà vườn nhờ thành quả kinh tế nên có nhiều điều kiện hưởng thụ. Họ không chỉ trồng cây ăn trái sau vườn tiện thu hoạch, mà trước nhà bây giờ cũng đầy sân kiểng tứ quý, uốn hình rồng, phụng, phụ tử, huynh đệ, tam cương, ngũ thường...

Từ nghề làm ruộng vốn quen, người dân dần phấn đấu lên bậc cao của nông nghiệp văn minh, tiên tiến là trồng hoa kiểng cho thu nhập cao
ẢNH: DUY TÂN

Từ nghề làm ruộng vốn quen, người dân dần phấn đấu lên bậc cao của nông nghiệp văn minh, tiên tiến là trồng hoa kiểng cho thu nhập cao
ẢNH: DUY TÂN

Hình thành từ đầu thế kỷ 20, chợ nổi Cái Răng là nơi người dân từ khắp nơi đến trao đổi, mua bán hàng hóa, đặc biệt là các đặc sản vùng ĐBSCL
ẢNH: DUY TÂN
Nhà vườn còn có giao thông thuận tiện. Trước sân nhà là đường, chạy song song là sông rạch, thuận tiện cho việc đi lại trên bộ, dưới thuyền. Về phương tiện thủy, gần như nhà vườn nào cũng có đôi, ba chiếc xuồng, ghe lớn nhỏ, chèo hoặc gắn máy nổ, tùy theo mục đích mà đem ra sử dụng. Một số nhà vườn còn xây thủy tạ "nhà mát" dành cho những buổi trưa trời nắng gắt tiếp khách, nghỉ ngơi. Khách xa, xóm giềng cũng có thể dừng lại hóng mát, nghỉ chân.
Do kênh, rạch sẵn trước nhà, bên hông hoặc sau vườn, với chế độ "bán nhật triều" (hai con nước xoay vần mỗi ngày đêm) nên cũng không sợ thiếu nước cho cây, sinh hoạt, đi lại. Chính chế độ thủy triều khiến vùng ngọt phù sa đồng bằng không hề biết lũ. Họ chỉ biết lụt, nhưng không hề sợ, bởi thời gian thiên nhiên như dự báo trước cho họ: tháng nào nước lên, tháng nào nước đổ, thời gian nào nước rông, thời gian nào nước kém, nước đứng, ngày nào nước nhảy khỏi bờ... Chính chế độ thủy triều đã mang tôm cá đến cho họ. Ăn không hết nên còn dư ra làm nhiều loại mắm, loại khô. Như "ông già Nam bộ" Sơn Nam có nói, chính chế độ thủy triều này giúp nhà vườn luôn hưởng không khí trong lành, cây trái tốt tươi, bởi "rác rến trôi đi, phù sa ở lại" theo từng con nước lớn, ròng liên tục thời gian.
Nhà vườn đã góp phần hình thành nền văn minh miệt vườn và nhiều gia đình cảm thấy tự hào về nếp sống văn minh mang đậm chất phong lưu, tài tử. Như anh chàng nhà vườn đã khoe với người yêu: Nhà anh cột táng, ván suôn/Liễn treo bốn bộ em buồn chuyện chi. Giờ đây, có dịp đi qua những khu nhà vườn Cái Mơn, An Bình, Bình Hòa Phước (Vĩnh Long), Ngũ Hiệp, Sa Đéc (Đồng Tháp), Cù lao Giêng, Bình Phước Xuân (An Giang), Mỹ Khánh, Tân Lộc (Cần Thơ), ai nấy đều trầm trồ khen ngợi nếp sống hài hòa giữa thành thị và thôn quê - dáng dấp của nếp văn minh miệt vườn.
ĐỜI SỐNG THƯƠNG HỒ
Câu hát dân gian phổ biến khắp vùng sông nước Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi/Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê rồi Nhà Bè nước chảy chia hai/Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về khiến người đồng bằng sông nước một phút chạnh lòng về quá khứ, khi cha ông họ từng xuôi Nam bằng xuồng ghe. Vậy nên trong tiềm thức cũng có một ít tư chất "giang hồ". Nhiều người quý trọng phẩm chất thích xê dịch này và nâng nó lên thành đạo thương hồ, còn nếu xem nó như một tật cố hữu, không sửa được thì gọi "bệnh thương hồ".
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư nói đúng, ai lớn lên trên vùng sông nước này mà không thấy "nhớ sông". Không chỉ nhớ con sông tắm mát những trưa hè tuổi ấu thơ. Không chỉ nhớ những khúc sông ở bến Bạch Đằng, Lạc Hồng, Ninh Kiều để tàu đò túa ra chở khách đi khắp mọi miền sông nước Cửu Long. Không chỉ nhớ nhiều loại ghe xuồng tụ lại trên sông để trao đổi hàng sỉ - lẻ mà người ta quen gọi là chợ nổi. Không chỉ nhớ những khúc sông có "bến bạ" dọc đường, để dăm ba ghe xuồng tụ lại buôn bán, nghỉ ngơi hoặc trao đổi chuyện rôm rả.

Năm 2016, chợ nổi Cái Răng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia...
ẢNH: DUY TÂN

... trở thành niềm tự hào của người dân miền Tây sông nước
ẢNH: DUY TÂN
Lại còn nhớ những ghe, xuồng lênh đênh trên sóng nước, gặp mùa nước đổ chảy siết thì nhờ những tàu hàng, sà lan dòng một xâu dài dằng dặc ghe, xuồng cho những lần ngược dòng sông Hậu, sông Tiền. Nhớ những ghe hàng rao bán quanh kênh rạch với một điệp khúc quen thuộc. Nhớ những chiếc trẹt chở máy cày, máy gặt qua sông mùa làm đồng, thu hoạch lúa. Nhớ những ghe đục chở cá từ trên sở thượng về miền trung tâm châu thổ. Và nhớ những chiếc tắc ráng, vỏ lãi chạy trong vùng Tháp Mười, Cà Mau tạo bọt nước mênh mông trắng xóa. Và cả những ghe hát đưa các gánh "bầu Tèo" vào sâu trong ngọn để phục vụ bà con mỗi dịp rằm trăng sáng. Nhớ những chiếc ghe chài, ghe bầu chở nông sản, thương phẩm Sài Gòn "khẳm đừ" nhộn nhịp qua lại miền Tây trên kinh xáng Chợ Gạo, Xà No, Vĩnh Tế... Và nhớ những chuyến phà tấp nập người, xe qua lại hối hả trên bến bắc.
Người Hoa có câu "phi thương bất phú", người miền Nam cũng học được ít nhiều tập tính kinh doanh này. Cũng phải thừa nhận đóng góp của những thương nhân người Hoa đưa đoàn tùy tùng xuôi Nam theo đường biển những thế kỷ trước về thần phục chúa Nguyễn. Họ được chúa ban ân huệ nên cũng ra sức giúp tạo nên những khu thương mại sầm uất: Biên Hòa với Trần Thượng Xuyên, Mỹ Tho với Dương Ngạn Địch và Hà Tiên với Mạc Cửu và trung tâm Sài Gòn có vùng Chợ Lớn.
Tập tính nông nghiệp là an cư lạc nghiệp, nhưng nếu không có đời sống thương hồ, đất đồng bằng cũng khó phát triển được như hôm nay. Một vùng đất giàu sông rạch, kinh mương thì ghe xuồng thương mại là lợi thế giao thương ưu việt. Những thế hệ kế thừa cần duy trì và chú trọng nhiều hơn đến sự phát triển này.

Cầu Đại Ngãi 1 - cầu dây văng lớn bậc nhất Việt Nam do Tập đoàn Đèo Cả thi công, góp phần hoàn thiện mạng lưới kết nối vùng Đồng bằng sông Cửu Long
ẢNH: Đ.C
LỄ HỘI VĂN HÓA
Lễ hội văn hóa gắn với đình thần là một truyền thống tâm linh dân gian tốt đẹp, lâu đời của người Việt trên mọi miền đất nước. "Đất có Thổ công, sông có Hà bá" nên vùng đất mới phương Nam cũng có những vị thần mới ngự trị. Thần ở đây có thần bản địa và thần di dân. Thần không chỉ có "thần người" bởi câu "Sinh vi tướng, tử vi thần". Thần còn là thần linh vật, từng thống trị lâu đời vùng đất hoang hóa. Nay dân đến xin khai khẩn lập nghiệp thì biết kiêng nể, kính trọng họ. Tất cả các thần được công chúng tôn trọng như nhau và tùy công đức từng vị mà số đình thần có thể nhiều ở các địa phương.
Đặc trưng lễ hội văn hóa đình thần đều nhằm mục đích chung là "Kỳ yên". Định kỳ quan trọng của năm là vào các rằm lớn: Thượng (tháng giêng), Trung (tháng bảy), Hạ (tháng chạp) để cầu cho quốc thái, dân an. Dịp cúng vào những đêm rằm là chắc người xưa chọn cho tiện đi lại đông đủ, tạo được sự đông đảo, náo nhiệt. Bởi vào ngày tối trời đường đi khó, lại thêm sông rạch, cầu khỉ cắt ngang, cắt dọc. Lễ hội luôn có 2 phần lễ và hội. Phần lễ ngắn gọn, trang nghiêm, thể hiện lòng thành tín ngưỡng. Phần hội dài ngày, không khí náo nhiệt bù lại. Thường có hát bội ở "Võ ca đình". Thêm gánh hát cải lương và nhiều hoạt động khác: đua ghe, đua bò, kéo dây, nhảy sạp... cho đủ vị thưởng thức.
Ngôn ngữ Nam bộ không phân biệt "cụ, cố, kỵ..." gì hết. Tất cả đều được gọi bằng một danh xưng bình đẳng là "ông" với tất cả sự tôn kính thật lòng. Lễ hội văn hóa tín ngưỡng đặc thù của người Nam bộ phần lớn là thờ ông, như: lăng ông Lê Văn Duyệt (gọi trang trọng là Ông lớn thượng) thờ Thượng Công, Tổng trấn Sài Gòn - Gia Định ở Bà Chiểu (Sài Gòn), Long Hưng (quê hương Ông Tả Quân). Các tỉnh thành cũng có lăng, đình, miếu thờ ông, thờ "Thành hoàng bổn cảnh", là những thần địa phương có công phát triển, gìn giữ đất phương Nam, như: Nguyễn Hữu Cảnh, Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Thoại Ngọc Hầu, Thiên Hộ Dương, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực...
Văn hóa tín ngưỡng dân gian còn thờ Ông Hổ, Ông Ba Mươi, Ông Cọp. Dù không có công giúp người nhưng xứ này vốn là đất Ông cai quản nên muốn khẩn đất làm ăn, mong tránh tai vạ xảy ra cũng cần kính uy Ông. Dù không mong được giúp đỡ thì xin Ông thương, đừng gây tai nạn, rủi ro.
Văn hóa tín ngưỡng dân gian vùng biển, vùng sông Mê Kông (Chợ Thủ, Vàm Nao) còn thờ Ông Cá. Cá voi, cá nược được dân kính trọng gọi ông Nược, ông Voi. Khi "Ông" chết được dân chôn cất, cúng tế cẩn thận, những mong mưa thuận, gió hòa phù hộ cho dân làng chài, đi biển. Ở những làng chài Phú Quốc (An Giang), Trần Đề (Cần Thơ), Thạnh Phú, Ba Tri (Vĩnh Long), Gò Công (Đồng Tháp)... đều có miếu thờ Ông (cá Ông).
Tín ngưỡng lễ hội văn hóa là tập quán tốt đẹp thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của người Việt, hoàn toàn không mang yếu tố tâm linh, mê tín.
Bình luận (0)