Sông Mê Kông 'trơ đáy', ĐBSCL lo hạn mặn khốc liệt: Sống chung với 'nước kém'

10 Thanh Niên
Nước sông Mê Kông ở thượng nguồn xuống thấp lịch sử ngay trong mùa mưa đã đặt hạ nguồn ĐBSCL trước một bối cảnh mới, sống chung với nước kém thay vì "sống chung với lũ” như trong quá khứ.
Mô hình trồng sen nuôi cá kết hợp với du lịch vào mùa lũ ở H.Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp /// Ảnh: Đình Tuyển Mô hình trồng sen nuôi cá kết hợp với du lịch vào mùa lũ ở H.Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp - Ảnh: Đình Tuyển
Mô hình trồng sen nuôi cá kết hợp với du lịch vào mùa lũ ở H.Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
Ảnh: Đình Tuyển
TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường - Tài nguyên thiên nhiên (Trường ĐH Cần Thơ), cho biết ngay tại ĐSBCL có 2 vùng trữ lũ rất lớn là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, được xem là 2 túi nước điều hòa cho đồng bằng.
“Nhưng nhiều năm trước, do chạy theo sản lượng lúa, chúng ta đã đắp rất nhiều đê bao để ngăn không cho nước lũ tràn vào khu vực này, để tăng diện tích canh tác lúa vào mùa lũ lên. Cái đó làm cho không gian trữ nước của đồng bằng bị thu hẹp, lượng nước ngọt không giữ lại được, mùa hạn đến thì lượng nước tại chỗ không còn đủ để bổ sung cho sông Hậu, sông Tiền đẩy bớt nước mặn ra biển. Và càng vào mùa khô hạn thì xâm nhập mặn càng sâu vào nội đồng”, ông Ni nói.

Không ngọt hóa để trồng lúa

Th.S Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái Mê Kông, nói thẳng: “Kinh nghiệm như năm 2016 cho thấy thì ít có biện pháp nào để đối phó với những năm khô hạn cực đoan. Dù có công trình cống đập ngăn mặn thì cũng không có tác dụng ngăn mặn vì bên trong không đủ nước thì ngăn mặn vô ích”.
Nước sông Mê Kông xuống thấp, ĐBSCL không có lũ sinh kế của người dân vùng đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp sẽ gặp nhiều khó khăn

Nước sông Mê Kông xuống thấp, ĐBSCL không có lũ sinh kế của người dân vùng đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp sẽ gặp nhiều khó khăn

Theo ông Thiện, về lâu dài, để tăng cường sức chống chịu của ĐBSCL thì cần khôi phục không gian của dòng sông, để nước có thể vào lại ruộng đồng phải bắt đầu bằng việc giảm bớt một vụ lúa trong mùa lũ ở Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười. Lũ vào được 2 vùng này không chỉ tích nước điều hòa dòng chảy cho mùa khô mà còn giảm ngập úng cho các đô thị, đường sá vùng hạ lưu, những nơi không có đê bao.
“Chính Nghị quyết 120 của Chính phủ cũng đã chỉ rõ, sản lượng lúa không còn là ưu tiên mà chất lượng mới quan trọng. Còn vùng ven biển thì nên chuyển sang hệ canh tác mặn, không nên cố ngọt hóa để canh tác lúa khắp nơi”, ông Thiện nói.
PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Trường ĐH Cần Thơ), cho rằng ĐBSCL cần giảm ngay diện tích lúa những nơi nào không đảm bảo nước ngọt hay kém hiệu quả, bởi lúa chính là cây trồng tốn rất nhiều nước. Ước tính để làm ra 1 tấn lúa vào mùa khô phải sử dụng 4.000 - 5.000 m3 nước.
“Và ngay lúc này, bộ ngành T.Ư và các địa phương ĐBSCL cần nhanh chóng khuyến cáo cho người dân có những bước chuẩn bị để ứng phó thiên tai”, ông Tuấn nói.

Tìm không gian trữ lũ

Chia sẻ về những thay đổi ở địa phương trong bối cảnh nước sông Mê Kông ngày một thất thường, ông Trần Anh Thư, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang - địa phương nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, tỏ ra đồng tình với quan điểm cần tạo thêm những không gian trữ lũ, tìm cách cân bằng nước giữa mùa lũ và mùa khô.
Thực tế, việc trữ lũ đang triển khai từng bước ở các địa phương đầu nguồn sông Hậu, sông Tiền là An Giang và Đồng Tháp. Theo ông Thư phân tích, có 3 cấp độ trữ lũ, ở cấp độ quốc tế tức cả lưu vực thì quan trọng nhất là nước ở Biển Hồ, Campuchia. Kế đến là trữ lũ cấp độ quốc gia, có thể tạo ra các hồ chứa từ 2.000 - 5.000 ha ở vùng đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp.
Và thứ ba là dựa vào cộng đồng. Ở cấp độ cộng đồng rất khả thi và An Giang, Đồng Tháp đang chuyển dịch từng bước. Cụ thể hiện nay hằng năm tùy theo lũ lớn, lũ nhỏ mà 1/3 diện tích trên tổng số 170.000 ha sản xuất lúa vụ 3 (sản xuất vào mùa lũ - PV) nằm trong đê bao của An Giang sẽ được chuyển đổi sang làm các mô hình canh tác khác, kết hợp với trữ nước lũ như trồng lúa nổi - cá, sen - cá, bông súng - cá… Cùng với đó là khoảng 20.000 ha đất lúa kém hiệu quả của vùng Tri Tôn giáp với Kiên Giang cũng đã chuyển sang trồng cây ăn trái, rau màu.
“Thay đổi trông thấy được là An Giang đã giảm số lượng vụ lúa từ 3 năm trồng 8 vụ xuống còn 2 năm trồng 5 vụ lúa. Tức là cứ 1 năm trồng 3 vụ lúa, thì năm tiếp theo, sẽ chỉ trồng 2 vụ, diện tích trồng lúa vụ 3 sẽ được mở cống lấy nước lũ vào đồng, vừa trữ nước điều hòa cho sông vừa bổ sung dinh dưỡng cho đồng ruộng. Mong muốn của An Giang là ngày nào đó sẽ chỉ còn làm 1 vụ lúa đông xuân, còn lại là trồng màu 2 vụ và dành khoảng 1 tháng mỗi năm để xả lũ vào đồng”, ông Thư nói.
Tương tự như An Giang, tại Đồng Tháp, các huyện đầu nguồn của tỉnh này cũng đã ngưng không mở rộng đê bao trồng lúa vụ 3. Nhiều mô hình canh tác nông nghiệp mùa lũ kết hợp du lịch đã được triển khai tại các huyện Tháp Mười, Hồng Ngự, Tân Hồng… “Từ năm 2017, huyện đã ngưng sản xuất 22.000 ha lúa vụ 3 để tránh rủi ro thiệt hại do hạn, mặn. Nhiều mô hình nuôi tôm được khuyến khích triển khai mang lại hiệu quả cao”, ông Trần Hoàng Dũng, Trưởng phòng NN-PTNT H.Trần Đề, cho biết.
Tuy nhiên, theo TS Dương Văn Ni, việc tăng diện tích trữ lũ ở ĐBSCL sẽ phải làm dần dần, và chuyển đổi các mô hình sản xuất cũng không thể thực hiện trong “một sớm một chiều”. Các địa phương sẽ phải tính đến sự đồng thuận của người dân, đến đầu ra sản phẩm, thị trường, rồi các mô hình canh tác, phù hợp với từng vùng, từng điều kiện đất, nguồn nước khác nhau.

Trồng bắp nuôi bò và trữ lũ

UBND tỉnh An Giang cho biết tại tỉnh này đang triển khai dự án đưa 22.000 con bò sữa về nuôi tại địa phương. Mỗi năm cần từ 30.000 - 50.000 ha trồng cây bắp, cỏ cho bò ăn.
Từ mô hình này, một số vùng sản xuất nông nghiệp của địa phương sẽ được định hướng chỉ trồng 1 vụ lúa đông xuân, còn lại là trồng 2 vụ bắp cho bò, thu nhập cao hơn 2 vụ lúa. Sau khi thu hoạch bắp cho bò, người nông dân vẫn đủ thời gian để xả lũ vào đồng trữ nước.

Bình luận 10

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết
Kim Hoàng

Kim Hoàng

Có 1 chi tiết cực kỳ quan trọng khiến sông Mekong cạn nước là các đập thủy điện ở thượng nguồn (bên Trung Quốc và Lào). Đập thủy điện không chỉ ngăn nước mà ngăn luôn phù sa và các hệ sinh vật truyền thống của Mekong, chẳng hạn như cá linh. Sông không còn phù sa bồi lắng 2 bên bờ đã và đang gây ra sạt lở nghiêm trọng ở Chợ Mới, tỉnh An Giang...
Võ Lành

Võ Lành

Sông MêKông là nguồn tài nguyên chung chứ không phải của riêng một đất nước nào cả, do vậy chúng ta nên yêu cầu các nước trên thượng nguồn phải tuân thủ nghiêm ngặt, để dòng chảy tự nhiên không xây đập nữa.
Thanh Minh

Thanh Minh

Chúng ta phải sống chung với lũ chứ không phải là ngăn lũ. Hiện tại Trun Quốc, Lào, Campuchia đã và đang xây các đập ngăn dòng Mekong lại điều đó không thể thay đổi được vậy chúng ta phải sống chung với tình trạng thiếu nước hoặc thừa nước khi đầu nguồn tích hay xả.
Sản lượng lúa gạo chúng ta đã quá đủ để tự an ninh lương thực hay xuất khẩu rồi không cần thiết phải bất chấp làm lúa gạo nữa mà gia tăng giá trị của nó. Gạo xuất khẩu thấp thì giảm trồng lúa mà nuôi trồng thủy sản,... đâu nhất quyết phải trồng lúa.
Khi chúng ta đã tự làm chủ được mình không cần phụ thuộc vào việc nước lên hay xuống nữa thì lợi ích càng lớn và nhất là lợi ích chính trị. Phụ thuộc vào nguồn nước sẽ bị ép về chính trị đầu nguồn, thích thì xả nước thích thì đóng cửa là chúng ta sẽ thua thiệt nhiều mặt.
Minh Hoang

Minh Hoang

ĐBSCL phải tự cứu mình, chờ thượng nguồn thì có mà chết khô, chết mặn. Các bộ ngành, địa phương phải đẩy nhanh thực hiện Nghị quyết 120 lên. Không chỉ lo nước lũ không về mà còn bao chuyện khác như phù sa, sạt lở, sụt lún đất, nước biển dâng... Tất cả đều đe doạ sự phát triển bền vững của ĐBSCL.
quile

quile

Việc này đề nghị UNEP, của Liên Hiệp Quốc, giúp đở nghiên cứu đánh giá tác động môi trường, tác động xã hội, phúc lợi, an sinh, sinh kế, đề ra giải pháp phối hợp giải quyết vì chính mục tiêu phát triển bền vững của LHQ
Phong Vu

Phong Vu

Trữ nước lũ để canh tác thì nên làm, còn nếu để xả ra nâng mực nước sông đủ cao hơn đẩy lùi xâm nhập mặn thì chưa chắc có hiệu quả vì lượng nước tương đối quá ít. Muốn tránh mất mùa do xâm nhập mặn thì các nơi trũng thấp gần biển nên tránh trồng vụ lúa vào cuối mùa khô. Điều đó bà con nông dân ai cũng đã biết, nhưng không muốn làm vậy vì vụ đông xuân cho năng suất rất cao hơn vụ mùa. Trung bình các giống lúa hiện tại khi trồng vụ đông xuân cho thời suất 1-120-120, tức là 1 hạt lúa giống sau 120 ngày cho 120 hạt lúa thành quả. Khi giống lúa và chi phí phân bón không đổi nhưng trồng vụ mùa nắng nhiều mưa nhiều, chu kỳ sinh học rút ngắn, cây lúa nhìn cao to xanh tốt nhưng năng suất lại giảm, thời suất trung bình giảm rõ rệt còn khoảng 1-100-100, gieo 1 hạt sau 100 ngày thì lúa đã chín nhưng thu hoạch chỉ được 100 hạt. Mọi chi phí như nhau mà bị mất đi 20% lợi nhuận là lý do chính mà bà con dù rủi ro xâm nhập mặn cũng cố bám vụ đông xuân.
Xem thêm bình luận

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm

Giá Bitcoin tăng theo giá vàng /// Bloomberg

Bitcoin 'ăn theo' giá vàng

Các đồng tiền ảo cùng đi lên trong ngày đầu tuần theo giá vàng sau khi Mỹ và Trung Quốc tuyên bố áp thuế bổ sung đối với hàng hóa hai bên.