Ngọn núi thiêng Pêng Ơi của người bản xứ
Gần 10 năm trước, trong một chuyến lên Đồn biên phòng Sông Thanh giữa những ngày giá lạnh, tôi từng đi bộ qua dốc Cổng Trời (Pêng Hu).
Con dốc dài, cao khiến đôi chân gần như rời khỏi đầu gối. Vậy mà khi ngoái nhìn lên, phía trên vẫn còn một ngọn núi cao ngất, chót vót như muốn chọc thẳng vào những tầng mây.

Núi Pêng Ơi (xã Đăk Blô, Quảng Ngãi) khi trời hửng nắng
ẢNH: P.A
Sau này tôi mới biết đó là Pêng Ơi. Người Giẻ Triêng ở xã Đăk Blô (Quảng Ngãi) gọi Pêng Ơi là núi Cơm. Ngọn núi quanh năm chìm trong sương gió, sừng sững, đánh dấu tên mình giữa rừng núi biên giới bao la. Đó là ngọn núi thiêng của người bản xứ, gắn với câu chuyện về hạt gạo, nồi cơm và một thời no đủ xa xưa.
Đêm lạnh năm ấy, bên bếp lửa nhà ông A Ngỗi (khi đó ông còn là Bí thư Đảng ủy xã Đăk Blô), tôi được nghe nhiều câu chuyện về vùng đất và con người nơi đây.

Núi chìm trong sương mù
ẢNH: P.A
Ông kể về những quy định nghiêm khắc trong đời sống cộng đồng. Rằng đàn ông ở đây không ai được bỏ vợ, đi ưng người khác sẽ bị làng phạt vạ. Nghe kể về tục "củi hứa hôn", về khu rừng ma và những quan niệm tâm linh của người Giẻ Triêng.
Trong thế giới rừng ma, người dân phân biệt ma tốt, ma xấu, ma nhà giàu... Dường như mỗi cánh rừng, con suối, ngọn núi dường như đều mang một câu chuyện riêng. Thế nhưng câu chuyện khiến tôi nhớ nhất vẫn là chuyện về Pêng Ơi.

Ruộng bậc thang của người Giẻ Triêng trong sương sớm
ẢNH: P.A
A Ngỗi kể từ xa xưa, hai làng Bung Koong và Bung Tôn dưới chân núi từng là vùng đất trù phú bậc nhất. Trâu đầy chuồng, ruộng nương đầy lúa. Người dân làm lụng quanh năm, nên lúa gạo nhiều đến mức ăn mãi không hết. Rồi một ngày, một chuyện rất nhỏ xảy ra. Từ chuyện nhỏ ấy, người Giẻ Triêng lý giải sự ra đời của một ngọn núi khổng lồ.
Từ nồi cơm khổng lồ đến 3 ngọn núi
Ngày ấy, một gia đình ra đồng gặt lúa. Giữa trưa, người mẹ chồng bảo con dâu về nhà nấu cơm, dặn: có khách thì nấu một hạt rưỡi gạo, nếu không có khách chỉ cần nấu nửa hạt rồi mang vào rẫy cho bố mẹ.
Thuở ấy, theo lời kể của người già, hạt gạo không giống hôm nay.
Chỉ nửa hạt gạo đã có thể nấu thành một nồi cơm lớn. Ba người ăn không hết, 6 - 7 người ăn một hạt vẫn còn thừa.
Cô con dâu theo lời dặn của mẹ chồng, băng rừng về nhà. Trên đường đi, một con thằn lằn bất ngờ chạy ngang khiến cô giật mình, quên mất lời dặn, nên quay trở lại hỏi mẹ. Rồi lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, con thằn lằn lại xuất hiện và lần nào cô cũng quên...

Một góc thôn vùng biên viễn Bung Tôn, xã Đăk Blô (Quảng Ngãi)
ẢNH: P.A
Đến lần thứ tư, người mẹ chồng nổi giận: "Mày thích nấu bao nhiêu thì tùy!". Cô con dâu về nhà, xúc cả một lon gạo bỏ vào nồi.
Chuyện kỳ lạ bắt đầu từ đó. Hạt gạo trong nồi cứ nở ra, hạt này nối tiếp hạt kia, nở mãi, nở mãi. Cột cơm cao dần, vươn lên tận trời.
Ông trời sợ nồi cơm chọc thủng trời nên nổi giận, làm mưa, làm gió rồi sai thần sét đánh gãy cột cơm thành 3 khúc. Một khúc nằm lại, trở thành Pêng Ơi (núi Cơm) bây giờ. Một khúc văng gần đó, trở thành Pêng Hu là dốc Cổng Trời. Khúc còn lại văng xa hơn, trở thành Pêng Ay, giáp xã Đăk Blô nhưng thuộc Lào.
Sau cơn giận, ông trời trách con người đã quá lãng phí lương thực rồi làm cho hạt gạo... nhỏ lại như ngày nay.
Câu chuyện ấy được người Giẻ Triêng kể từ đời này sang đời khác. Với người ngoài, đó chỉ là một truyền thuyết. Còn với người dưới chân ngọn Pêng Ơi, đó là một cách giải thích thế giới: Vì sao có núi, vì sao có những địa danh quanh làng và vì sao hạt lúa lại quý đến vậy.
Pêng Ơi, vì thế, là một nồi cơm khổng lồ trong ký ức, mãi nằm lại giữa trời đất.

Ruộng bậc thang dưới chân núi
ẢNH: P.A
Thiếu tá Xiêng Ngưng Tụ, Đồn trưởng Đồn biên phòng Đăk Blô, một người con của vùng đất này, cũng từng kể tôi nghe câu chuyện ấy vào một đêm tôi nghỉ tại đơn vị. Anh bảo, truyền thuyết Pêng Ơi còn được người dân dùng để lý giải nhiều dấu tích quanh chân núi.
Trên núi Cơm vẫn còn 3 tảng đá lớn, theo cách lý giải dân gian chính là dấu tích chiếc kiềng 3 chân mà cô con dâu ngày xưa dùng để đặt nồi cơm. Xen giữa những tảng đá lớn ấy còn có nhiều khối đá hình dáng như củi, than, là nơi cô con dâu nấu cơm.
Bây giờ, chuyện nồi cơm đã hóa thành núi, thần bí và thiêng liêng của người Giẻ Triêng.
Nhìn màu đá núi, đoán mùa lúa
Với người dân Đăk Blô, Pêng Ơi không chỉ là truyền thuyết, mà còn là… một "mùa vụ". Theo kinh nghiệm truyền đời của họ, vào những ngày trời nắng, nếu trên vách đá núi Cơm xuất hiện những vệt nước màu vàng rỉ ra, người dân tin rằng năm ấy làm ăn thuận lợi, mùa màng được mùa.
Ngược lại, nhìn lên thấy cây cỏ xanh tốt, bám đầy trên những vách đá là dấu hiệu của một năm mất mùa. Khi mất mùa, người dân tổ chức cúng tại núi Cơm, cầu mong yàng (trời) thương tình, mùa sau lúa đầy bồ, người và vật nuôi khỏe mạnh.
Trải qua thời gian, Pêng Ơi trở thành biểu tượng của sự ấm no. Người dân ở làng Bung Tôn vẫn cho rằng, mình no đủ, thịnh vượng hơn những nơi khác vì ở gần "nồi cơm".

Bộ đội biên phòng tuần tra cũng đi qua đồng lúa bậc thang
ẢNH: P.A
Làng Bung Tôn chỉ sản xuất lúa 1 vụ, vì thời tiết lạnh kéo dài 8 - 9 tháng trong năm. Thông thường đến dịp trước và trong Tết Nguyên đán, người dân mới bắt đầu xuống giống. Đất đai, khí hậu ở vùng cao khiến sản xuất nông nghiệp không dễ dàng.
Thế nhưng, theo thiếu tá Xiêng Ngưng Tụ, người Giẻ Triêng ở đây làm lúa hiếm khi sử dụng phân bón mà ruộng vẫn tốt, cây lúa phát triển, nhiều năm cho năng suất khá.
Nhìn xuống thung lũng Peng Lang, những thửa ruộng bậc thang nằm lọt giữa núi rừng, người ta càng dễ hiểu vì sao Pêng Ơi được người dân gắn với câu chuyện về hạt gạo.

Một góc làng Giẻ Triêng dưới chân núi Pêng Ơi
ẢNH: P.A
Có người đặt giả thuyết rằng những dòng nước từ núi Pêng Ơi chảy xuống thung lũng có thể mang theo những khoáng chất phù hợp với đất trồng lúa. Thế nhưng đó chỉ là suy đoán dân gian, chưa có nghiên cứu khoa học để kiểm chứng.
Còn với người dân, khi Pêng Ơi đứng đó, mỗi vụ mùa bắt đầu và thu hoạch, ngọn núi đứng đó, nhắc về hạt gạo và sự no đủ ở xứ này.
Gìn giữ tục xưa
Ở xã Đăk Plô, có 2 thôn Đăk Nớ và Đăk Ga hiện vẫn duy trì Lễ Cha K'chiah, thường được tổ chức vào tháng 12 hằng năm. Trong đó, Đăk Ga còn giữ được nhiều nét nguyên sơ của lễ tục truyền thống này.
Theo tiếng Giẻ Triêng, "cha" có nghĩa là ăn; "K'chiah" vừa có nghĩa là than, vừa là tên một loại cây được người ở đây dùng để đốt lấy than phục vụ nghề rèn truyền thống, đồng thời cũng mang nghĩa là tết.
Hiểu theo nghĩa đen, Cha K'chiah là lễ hội ăn than. Trong lễ hội, cộng đồng lấy than từ rừng, rèn các công cụ lao động và thực hiện những nghi lễ gắn với đời sống tâm linh. Người Giẻ Triêng quan niệm, chỉ loại than làm từ cây K'chiah mới đủ "ăn lửa", giúp những thanh sắt vô tri trở thành dao, rựa và các công cụ lao động sắc bén.
Một năm, cộng đồng chỉ đốt than một lần. Việc đốt than bừa bãi bị kiêng cữ vì người xưa tin rằng sẽ bị thần linh trừng phạt, gây hỏa hoạn, mất mùa hoặc bệnh tật.
Ở một tầng nghĩa khác, Cha K'chiah là lễ tết sau mùa thu hoạch. Đó là lúc cộng đồng ăn mừng mùa màng, tạ ơn thần linh, củng cố tình đoàn kết và xóa bỏ những hiềm khích, bất hòa trong năm. Người dân đồng thời chuẩn bị nông cụ, phát dọn rẫy thiêng để bước vào mùa sản xuất mới.
***
Chiều xuống ở Đăk Blô, Pêng Ơi lại chìm dần trong mây.
Ngọn núi cao ngất vẫn đứng đó, mang đến cho người Giẻ Triêng một ước vọng giản dị: mong cho bếp lửa không tắt, ruộng lúa đầy hạt và làng luôn đủ ăn.











Bình luận (0)