Thứ hạng điểm thi THPT của 34 địa phương: Cần một cách đối sánh công bằng hơn

Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nếu chỉ nhìn vào điểm trung bình và thứ hạng thì chỉ mới cho thấy phần nổi của dữ liệu. Khi đặt cạnh nhau 3 chỉ số gồm: Điểm trung bình 4 môn; tổng điểm ngữ văn, toán và tổng điểm 2 môn tự chọn, bức tranh 34 địa phương trở nên đa chiều hơn.

3 chỉ số, 3 nhóm địa phương 

Ba chỉ số tương ứng với 3 chiều cạnh: mặt bằng chung – năng lực nền tảng – kết quả theo định hướng lựa chọn. Qua đó có thể nhận diện 3 nhóm địa phương và những khoảng cách đáng chú ý phía sau thứ hạng.

Ba chỉ số bao gồm: Điểm trung bình 4 môn phản ánh mặt bằng chung; tổng điểm môn ngữ văn – toán cho thấy năng lực nền tảng; tổng  điểm 2 môn tự chọn phản ánh phần nào năng lực chuyên biệt và định hướng học tập.

Thứ hạng điểm thi THPT của 34 địa phương: Cần một cách đối sánh công bằng hơn - Ảnh 1.

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT 2026 tại TP.HCM

ảnh: Nhật Thịnh

Từ 3 chỉ số, 34 địa phương được chia thành 3 nhóm: 10 địa phương có kết quả cao và tương đối đồng đều; 14 địa phương ở nhóm giữa với những chênh lệch đáng kể giữa nền tảng và định hướng; 10 địa phương có kết quả thấp trên cả ba chiều cạnh.

Đây không phải những "chiếc hộp" để gắn nhãn mạnh hay yếu, mà là cách tổ chức dữ liệu nhằm nhận diện những khác biệt mà một bảng xếp hạng một chỉ số khó cho thấy. Mục tiêu cuối cùng không phải tạo ra bảng xếp hạng đẹp hơn, mà là giúp mỗi địa phương nhận diện đúng điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân, từ đó cải thiện chất lượng và mở rộng cơ hội học tập công bằng cho người học.

Không thể so sánh điểm từng môn tự chọn giữa các địa phương

Một lưu ý quan trọng là môn tự chọn không cùng cơ cấu thí sinh và điều kiện lựa chọn giữa các địa phương. Tỷ lệ phần trăm lựa chọn môn tiếng Anh dự thi của các địa phương rất khác biệt (Hà Nội có 51% và TP.HCM là 50%, Tuyên Quang chỉ khoảng 12%). Vì vậy, không thể đối sánh trung bình điểm thi môn này giữa các địa phương. Và các môn tự chọn khác cũng có tỷ lệ rất khác nhau.

Vì vậy, tổng điểm trung bình của 2 môn tự chọn nói chung (không phân biệt môn thi) vừa phản ánh kết quả học tập, vừa chịu ảnh hưởng của cơ cấu môn thi và cơ cấu người dự thi.

Do đó, không thể chỉ dựa vào việc một địa phương đứng thứ nhất hay thứ 30 để kết luận ngay về chất lượng hướng nghiệp.

Chỉ số này nên được sử dụng như một lát cắt để phát hiện vấn đề. Sau đó cần phân tích số lượng thí sinh từng môn, tỷ lệ lựa chọn, phổ điểm, đặc điểm người học và điều kiện dạy học. Đối sánh chỉ thực sự có ý nghĩa khi chuyển từ nhận diện "sự khác nhau" sang câu hỏi "vì sao có sự khác nhau?".

Nhóm thứ nhất gồm 10 địa phương: Ninh Bình dẫn đầu

Như vậy, theo tiêu chí ba thứ hạng đều thuộc nhóm cao và tổng 3 thứ hạng dưới 30, có thể xác định 10 địa phương thuộc nhóm thứ nhất, gồm: Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ, TP.HCM, Huế, Hưng Yên và Bắc Ninh.

Ninh Bình là địa phương nổi bật nhất. Tỉnh đứng thứ nhất về điểm trung bình 4 môn với 6,320 điểm, đứng thứ nhất về tổng văn – toán với 13,52 điểm và thứ hai về tổng 2 môn tự chọn với 11,76 điểm. Ba thứ hạng của 3 chỉ số lần lượt là 1–1–2 cho thấy sự hội tụ rất rõ giữa mặt bằng chung, năng lực nền tảng và kết quả các môn lựa chọn.

Nghệ An cũng có ba thứ hạng 4–5–3, Hà Tĩnh 5–4–4. Hà Nội đứng 2–3–7, Hải Phòng 3–2–9. Phú Thọ đứng 6–8–1, nổi bật nhất ở hai môn tự chọn với 11,86 điểm. TP.HCM đứng 7–6–10, Huế 8–10–5, Hưng Yên 9–7–11, Bắc Ninh 10–12–8.

Điểm đáng chú ý là kết quả của các địa phương ít biến động khi thay đổi thước đo. Yếu tố nào giúp các địa phương này duy trì kết quả tốt ở cả mặt bằng chung, năng lực nền tảng lẫn môn lựa chọn?

Câu trả lời có thể liên quan đến giáo viên, tổ chức dạy học, quản lý, điều kiện học tập, gia đình hay hướng nghiệp. Tuy nhiên, dữ liệu điểm thi chưa đủ để kết luận nguyên nhân; nó chỉ là căn cứ để xác định những nơi cần nghiên cứu sâu hơn.

Thứ hạng điểm thi THPT của 34 địa phương: Cần một cách đối sánh công bằng hơn - Ảnh 2.

ảnh: H.S.A

Nhóm thứ hai: Những khoảng cách đáng được giải thích

Nếu nhóm thứ nhất nổi bật bởi sự đồng đều thì nhóm 2 là sự phân hóa. Theo cách phân chia mới, nhóm này gồm 14 địa phương, có tổng ba thứ hạng từ 31 đến 73: Thanh Hóa, Đồng Tháp, Quảng Trị, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Cà Mau, Quảng Ngãi, An Giang, Tuyên Quang, Khánh Hòa, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Gia Lai và Cần Thơ.

Trong nhóm này, không ít địa phương có khoảng cách đáng kể giữa thứ hạng tổng  môn văn – toán và tổng 2 môn tự chọn.

Quảng Ngãi đứng 13 về văn – toán nhưng đứng 25 về 2 môn tự chọn, chênh 12 bậc. Khánh Hòa đứng 17 và 29, Thái Nguyên 18 và 30, đều chênh 12 bậc.

Ngược lại, Tuyên Quang đứng 26 về văn – toán nhưng thứ 6 về hai môn tự chọn, chênh tới 20 bậc, lớn nhất trong 34 địa phương.

Đây chính là nhóm mà khoảng cách giữa các chỉ số có thể có giá trị phân tích lớn hơn bản thân thứ hạng.

Vì sao Tuyên Quang chênh 20 bậc?

Sau khi cập nhật kết quả thi lại tại điểm thi Trường THPT chuyên Tuyên Quang, điểm toán của tỉnh giảm từ 5,07 xuống 5,01, điểm trung bình 4 môn từ 5,721 xuống 5,684, đứng thứ 19.

Tổng môn văn – toán đạt 11,19 điểm, đứng thứ 26, trong khi tổng 2 môn tự chọn đạt 11,55 điểm, đứng thứ 6. Khoảng cách giữa hai thứ hạng lên tới 20 bậc, lớn nhất trong 34 địa phương.

Chênh lệch trên chưa đủ căn cứ để kết luận về chất lượng giáo dục hay hướng nghiệp. Khoảng cách này có thể chịu tác động từ cơ cấu chọn môn, số lượng thí sinh, đặc điểm nhóm học sinh, chất lượng giáo viên, phương pháp ôn tập và điều kiện trường lớp.

Vì vậy, mức chênh lệch 20 bậc nên được xem là tín hiệu gợi mở nghiên cứu, không phải kết luận cuối cùng. Tương tự, khoảng cách 12 bậc giữa  điểm văn – toán và 2 môn tự chọn ở Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Thái Nguyên cũng cần được lý giải bằng các dữ liệu chuyên sâu hơn, thay vì chỉ nhìn vào điểm tổng quát.

Thứ hạng điểm thi THPT của 34 địa phương: Cần một cách đối sánh công bằng hơn - Ảnh 3.

ảnh:H.S.A

Nhóm thứ ba: Khi kết quả thấp trên nhiều chiều cạnh

Nhóm 3 gồm 10 địa phương, có tổng ba thứ hạng từ 74 trở lên: Đồng Nai, Lai Châu, Lào Cai, Tây Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Điện Biên, Đắk Lắk, Vĩnh Long và Sơn La.

Đây là nhóm có kết quả nhìn chung thấp trên cả 3 chỉ số. Sơn La đứng 34 ở cả ba, với điểm trung bình 4 môn 4,979, tổng  điểm văn – toán 9,64 và 2 môn tự chọn 10,28. Điện Biên cũng khá đồng đều ở mặt bằng thấp, cùng đứng 31 ở cả ba chỉ số.

Tuy nhiên, nhóm này không hoàn toàn đồng nhất. Vĩnh Long đứng 33 về điểm trung bình, 33 về văn – toán nhưng thứ 22 về hai môn tự chọn; Lạng Sơn đứng 32 về văn – toán nhưng thứ 20 về hai môn tự chọn.

Những khác biệt này cho thấy không nên gắn nhãn "mạnh" hay "yếu" cho địa phương chỉ từ một bảng xếp hạng. Kết quả cần được đặt trong bối cảnh điều kiện kinh tế - xã hội, vùng miền, trường lớp, đội ngũ giáo viên và đặc điểm người học.

Thứ hạng điểm thi THPT của 34 địa phương: Cần một cách đối sánh công bằng hơn - Ảnh 4.

ảnh: H.S.A

Cần đối sánh các nơi có điều kiện tương đồng 

Bảng đối sánh 34 địa phương giúp dữ liệu dễ nhìn nhưng thiếu công bằng do kết quả học tập phụ thuộc lớn vào hoàn cảnh kinh tế, phụ huynh, công nghệ và giáo viên. Vì vậy, ngành giáo dục cần đối sánh các nơi có điều kiện tương đồng như cùng nhóm đô thị hoặc miền núi, đồng thời xem xét cả đầu vào lẫn đầu ra.

Việc phân tích đồng thời 3 chỉ số là bước tiến lớn so với đánh giá đơn lẻ, giúp phác họa bức tranh toàn diện, khách quan và hạn chế sai lệch để nhận diện rõ điểm mạnh, điểm yếu. Tuy nhiên, đích đến không phải là tìm ra nơi điểm cao nhất, mà là xác định hệ thống giáo dục đã tạo ra giá trị gia tăng gì cho người học trong hoàn cảnh cụ thể.

Điểm số tuyệt đối không phản ánh trọn vẹn chất lượng giảng dạy. Một cơ chế đối sánh công bằng, đa chiều dựa trên sự tiến bộ thực tế của học sinh mới là chìa khóa chính xác để cải thiện chất lượng và thúc đẩy giáo dục phát triển bền vững.

Thứ hạng điểm thi THPT của 34 địa phương: Cần một cách đối sánh công bằng hơn - Ảnh 6.

Không nên gắn nhãn "mạnh" hay "yếu" cho địa phương chỉ từ một bảng xếp hạng. Kết quả cần được đặt trong bối cảnh điều kiện kinh tế - xã hội, vùng miền, trường lớp, đội ngũ giáo viên và đặc điểm người học

ảnh: Nhật Thịnh

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.