Độc đáo nhạc cụ Trường Sơn - Tây nguyên

Tiếng đàn môi bên sông Toong

Phạm Anh
Phạm Anh
Có một nhạc cụ nhỏ bé đến mức thoạt nhìn khó ai nghĩ đó là một cây đàn. Vậy mà người Cor vùng đất quế Trà Bồng (Quảng Ngãi) biết sử dụng để bày tỏ tiếng lòng, tỏ tình, gửi gắm những nỗi niềm...

Nếu kèn a máp là nhạc cụ gắn với phụ nữ Cor thì đàn môi, hay còn gọi là ra ngoái, lại thuộc về những người đàn ông. Qua năm tháng, tiếng đàn ấy từng theo các chàng trai vào rừng, lên rẫy, theo họ qua những mùa yêu thương và cả những năm tháng chiến tranh.

KHÚC LỒ Ô CẤT TIẾNG LÒNG

Theo chân chị Hồ Thị Hồng Thúy, cán bộ văn hóa xã Tây Trà Bồng, chúng tôi men theo những con đường bê tông quanh co dẫn về thôn Trà Thọ (trước đây là thôn Tây). Dòng sông Toong ngày nào giờ đã hòa vào hồ Nước Trong, xanh thẳm giữa núi rừng. Xuôi thêm mấy con dốc, chúng tôi tìm đến nhà già làng Hồ Văn Viên (80 tuổi), ở sâu dưới chân đồi.

Tiếng đàn môi bên sông Toong- Ảnh 1.

Già Hồ Văn Viên biểu diễn đàn môi

ẢNH: P.A

Trải chiếc chiếu trước hiên, già Viên chào khách rồi lặng lẽ vào nhà. Một lúc sau, ông trở ra với mấy nhạc cụ đã gắn bó gần như cả đời: sáo ta lía, đàn bro và một đoạn lồ ô chỉ dài chừng 15 cm.

Chị Thúy cầm đoạn lồ ô lên, đố mọi người đoán thử. Không ai nghĩ nó là một cây đàn. "Đây là đàn ra ngoái, hay còn gọi là đàn môi", chị giải thích.

Chiếc đàn nhỏ bé có bề ngang chỉ từ 1 - 1,6 cm. Trên thân lồ ô gắn một thanh sắt mỏng, phía ngoài có sáp ong. Nhạc cụ này đã theo già Viên từ thuở thanh niên, qua những năm tháng cầm súng tham gia kháng chiến và ở lại với ông đến tận hôm nay. Ngày trước, đi rừng, lên rẫy, ông luôn mang đàn môi bên mình. Buồn cũng đàn, vui cũng đàn. Nhớ người thương, nhớ gia đình, nhớ con suối, lối mòn giữa rừng hay mảnh đất nơi mình sinh ra, ông lại đưa cây đàn lên môi.

Những năm tham gia kháng chiến, đơn vị ông làm nhiệm vụ cảnh vệ vùng căn cứ nên lúc đi gác không được sử dụng đàn. Ngoài những lúc ấy, cây đàn gần như không rời ông. Già Viên cười hiền: "Buồn thì mình đàn cho nhẹ bụng. Nhớ ai, mình cũng đàn. Hồi đó, người thương nghe tiếng đàn là hiểu mình muốn nói gì".

Nghe ông kể, chúng tôi chợt nghĩ đến đàn brõ bom của người Jrai. Hai loại nhạc cụ khác nhau nhưng đều là những "bức thư" không chữ. Chàng trai mượn tiếng đàn để tỏ tình, người con gái nghe rồi tự hiểu những điều được gửi gắm. Có những yêu thương chẳng cần nói thành lời, chỉ một giai điệu cũng đủ. Có điều, để từ một khúc lồ ô thành tiếng đàn, không hề dễ.

Già Viên áp đàn sát vào môi, thổi vào khoảng trống trên thân đàn. Một tay ông điều khiển thanh thép qua lại để thay đổi cao độ. Những âm thanh mảnh, trong và lạ bật lên. Ông kể ngày trước phải mất khoảng 10 ngày tập luyện liên tục đàn môi mới bắt đầu phát ra tiếng. Chơi được 3 tháng mới có thể "kể" được đôi điều bằng đàn. Rồi phải chơi lâu hơn nữa, từng ngày một, để những giai điệu buồn vui dần thành lời.

TIẾNG ĐÀN ĐÁNH THỨC CẢ NÓC

Già làng Hồ Văn Viên đưa chiếc sáo ta lía dài khoảng 15 cm lên môi. Ông không chỉ biết đàn môi mà còn chơi được nhiều nhạc cụ độc đáo khác của người Cor. Những ngón tay lần lượt bấm vào các lỗ trên thân sáo, tiếng nhạc bật ra khi trong, khi trầm. Với người Cor, sáo ta lía cũng không đơn thuần là nhạc cụ. Mỗi người thổi lại gửi vào đó một tâm trạng riêng.

Tiếng đàn môi bên sông Toong- Ảnh 2.

Đàn môi được già làng Hồ Văn Viên ở xã Tây Trà Bồng (Quảng Ngãi) lưu giữ

ẢNH: P.A

Rồi già Viên lại cầm chiếc đàn bro. Đó là cây đàn 2 dây, gồm dây đực và dây cái. Người rành nghề có thể làm 3 dây. Trên thân đàn có 7 núm tương ứng với 7 nốt nhạc. Phía đầu đàn gắn một quả bầu được trang trí bằng nhiều màu sắc, hình ảnh các loài thú hoang và vật nuôi. "Trái bầu giống như cái loa vậy. Nhờ nó mà tiếng đàn bro nghe to hay nhỏ", già Viên giải thích.

Già Viên nhớ ngày trước, sáng sớm đàn bro cất lên là người trong nóc lần lượt bước ra khỏi nhà, người lên rẫy, người vào rừng. Tiếng đàn như lời gọi quen thuộc của núi rừng, gắn với nhịp sống của cả cộng đồng. "Bây giờ không còn tiếng đàn nhắc mọi người đi rừng, đi rẫy nữa. Nhưng người già chúng tôi thì không quên được. Mai này có mang đi xa, chắc tiếng đàn ấy vẫn còn trong lòng", ông chia sẻ.

LO TRUYỀN NHÂN CHO ĐÀN MÔI

Già Viên bảo làm một cây đàn môi rất công phu. Lồ ô phải chọn loại vừa độ tuổi, không quá già nhưng cũng không được non. Chặt về phải phơi khô, nhưng tránh nắng gắt, thường khoảng 2 - 3 ngày. Phải tìm được thanh sắt phù hợp, rồi mất 2 - 3 ngày vót, chỉnh; sau đó gắn vào thân lồ ô bằng sáp ong và thử tiếng. Thử đi thử lại cho đến khi âm thanh vang lên vừa tai. Có khi mất cả tháng mới làm được một cây đàn khiến người chơi ưng cái bụng.

Tiếng đàn môi bên sông Toong- Ảnh 3.

Già Viên với sáo ta lía

ẢNH: P.A

Chế tác đã khó, học đàn còn khó hơn. Theo già Viên, trong thôn hiện chỉ có ông biết chơi đàn môi thành thạo. Có người trẻ từng đến học, nhưng chỉ vài ngày đã bỏ cuộc vì thấy khó. Nhiều thanh niên thích những nhạc cụ hiện đại hơn; số khác đi học, đi làm xa, không còn thời gian để theo đuổi. Già Viên đã nhiều lần tìm người truyền nghề. Ông muốn trao lại cây đàn và những gì mình biết trước khi quá muộn, nhưng vẫn chưa tìm được.

Chị Hồ Thị Hồng Thúy cho biết người Cor còn có nhiều nhạc cụ độc đáo như kèn a máp, đàn đá... Thế nhưng cùng với sự thay đổi của đời sống, không ít nhạc cụ đã ít người sử dụng, thậm chí có loại không còn người biết chơi... Trong căn nhà nhỏ dưới chân đồi, già Viên lại cầm đàn môi lên. Khúc lồ ô chỉ dài hơn gang tay nằm gọn trong đôi tay đã nhăn nheo. Ông áp môi vào đàn, khẽ thổi. Một thanh âm mảnh mai bật ra, len qua những tán cây, tìm về phía dòng sông Toong xưa. Có lẽ, đó là tiếng của một người già đang níu giữ ký ức. Là tiếng của những mùa rẫy, những con đường rừng, những người đã đi xa. (còn tiếp)

Tiếng đàn môi bên sông Toong- Ảnh 4.

Đàn bro của người Cor

ẢNH: P.A

 

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.