Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam

Tổng trấn đầu tiên của Gia Định thành

Đường từ Sa Đéc đi Cao Lãnh, phía bên phải có khu lăng mộ tọa lạc khóm Đông Huề, người địa phương gọi là Lăng Ông. Đây là nơi yên nghỉ của Quận công Nguyễn Văn Nhơn. Ngoài ra, linh vị Quận công còn được phối tự thờ trang trọng tại đình Tân Đông, cũng thuộc P.Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Vì sao gọi "Quan lớn Sen"?

Tương truyền trong thời chúa Nguyễn Phúc Ánh bôn tẩu, việc hầu hạ mẹ được giao cho tùy tướng Nguyễn Văn Nhơn đảm trách. Những khi bà mệt nhọc thường dùng chè hột sen của Nhơn dâng lên. Lâu ngày thành quen, mỗi khi cần dùng món ấy, bà chỉ gọi một tiếng "sen" là tự khắc Nhơn tới. Vì vậy nên mới có ba tiếng "Quan lớn Sen".

Tổng trấn đầu tiên của Gia Định thành- Ảnh 1.

Linh vị Quận công Nguyễn Văn Nhơn được phối thờ ở đình Tân Đông

Ảnh: Hoàng Phương

Việc di dời mộ Quận công Nguyễn Văn Nhơn hoàn thành ngày 17.3.1920. Khu lăng mộ hiện nằm trên đất vườn nhà ông Nguyễn Văn Tám, hậu duệ đời thứ 5 của Quận công, có tường rào bao quanh khuôn viên, gần đây sơn sửa khang trang hơn nhưng vẫn giữ được nét cổ kính. Khu mộ gồm 6 lăng mộ lớn và một số mộ nhỏ. Trong đó lăng mộ lớn nhất là ông và bà Nguyễn Văn Nhơn, số còn lại là cha, con và cháu của Quận công.

Trước lăng mộ Nguyễn Văn Nhơn có câu đối chữ Hán: "Bất hủ huân danh lưu cố quốc/Vô cùng tuế nguyệt điện tân thiên" (Nước xưa muôn đời lưu danh tiếng/Mồ mới ngàn năm vững đất trời). Nội dung câu đối ca ngợi tài đức, công ơn của danh tướng Nguyễn Văn Nhơn, đồng thời cũng nói lên lòng ngưỡng vọng của người đời với vị tướng trung dũng, thương dân.

Quận công Nguyễn Văn Nhơn sinh năm 1753, là công thần hai đời Gia Long và Minh Mạng. Tổ tiên ông gốc Đà Nẵng, theo Nguyễn Phúc Ánh vào nam ở dinh Trấn Biên, sau lập nghiệp tại làng Tân Đông, H.Vĩnh An, tỉnh An Giang (nay thuộc P.Sa Đéc, Đồng Tháp). Ông tên thật là Nguyễn Văn Sáng, được Gia Long sắc ban tên Nhơn, từ đó sách sử gọi là Nguyễn Văn Nhơn.

Nguyễn Văn Nhơn khởi đầu binh nghiệp từ năm Giáp Ngọ (1774), lúc đó mới 21 tuổi. Khi Trấn thủ dinh Long Hồ Tống Phước Hiệp và Cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên truyền hịch mộ quân Cần vương, ông giữ chức đội trưởng, sau được thăng cai đội. Cuối năm Đinh Dậu (1777), chúa Nguyễn Phúc Ánh khởi binh tại Long Xuyên (Cà Mau), ông theo Dương Công Trừng đóng giữ ở Sa Đéc, được thăng chức cai cơ.

Năm Ất Mão (1795), Quận công Nguyễn Văn Nhơn giữ chức Lưu thủ dinh Trấn Biên. Năm Đinh Tỵ (1797), ông được điều về Gia Định, lãnh việc vận lương kiêm thêm việc ở bộ Hộ. Từ năm 1802 - 1805, ông giữ chức Lưu trấn Gia Định. Năm Gia Long thứ 7 (1808), trấn Gia Định đổi tên là Gia Định thành, ông được cử làm Tổng trấn đầu tiên. Gần cuối năm 1810, ông bàn giao lại cho Trương Tấn Bửu làm Quyền tổng trấn rồi dẫn binh đi kinh lược Nam Vang. Năm 1819, sau khi vị Tổng trấn tiền nhiệm Nguyễn Huỳnh Đức qua đời, ông được cử làm Tổng trấn Gia Định thành lần thứ hai, đến năm 1820.

Tổng trấn đầu tiên của Gia Định thành- Ảnh 2.

Khu lăng mộ Quận công Nguyễn Văn Nhơn ở P.Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

Ảnh: Hoàng Phương

Vị quan có tư tưởng cải cách

Cuối năm 1802, sau khi Gia Long bình định Bắc Hà, Nguyễn Văn Nhơn dâng sớ điều trần gồm 14 điều xin chấn chỉnh, cải cách ở nhiều lĩnh vực quan trọng, liên quan đến quốc kế dân sinh, như định lại các sắc thuế, trọng dụng hiền tài, cải cách phong tục, biểu dương người trinh tiết, định phép khoa cử và chấn chỉnh nghiêm việc quan lại...

Năm 1804, ông lại dâng sớ xin tha, giảm phân nửa thuế thóc cho hạng dân đồn điền già yếu và xin vua lưu ý đến bọn "lại gian" mưu lợi trong việc thu thuế làm cho lòng dân không yên. Khi làm Tổng trấn Gia Định thành, ông tâu với vua Gia Long: "Trị nước thì gốc ở nhân tài, hành chính thì trước lấy giáo hóa... Nay non sông dựng lại, đất nước lặng trong, chính là lúc học giả được thành nghiệp. Vậy xin định lại giáo điều, khiến cho học trò có đường tiến tới để đáp lại tấm lòng thánh thượng muốn xếp qua để giảng học".

Đại Nam thực lục chép: "Năm Minh Mạng thứ 1 xuống chiếu tìm sách vở sót. Năm thứ 2 mở đặt Sử quán, sai quan vâng chép bộ Liệt thánh thực lục, chia làm Tiền biên và Chính biên. Lại đặc biệt sai văn võ đại thần là bọn Nguyễn Văn Nhơn, Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, sung chức Tổng tài, soạn chép từng thời, theo năm ghi việc, tìm nhặt sử cũ, mà ý nghĩa thể lệ đều định đoạt do thánh tâm. Mấy lần sử biên chép dâng trình, vâng theo quyết định, phép tắc đã rõ rệt, điều mục đã phân minh. Nhưng đã tinh còn muốn tinh hơn, đã tường còn muốn tường nữa, thánh tâm vẫn mong chờ như thế".

Điều đặc biệt là Quận công Nguyễn Văn Nhơn sinh ra vào thời loạn lạc, lại sớm theo nghiệp binh đao, không được học hành nhiều. Mãi đến khi làm Lưu thủ dinh Trấn Biên, lúc đó đã ngoài 40 tuổi, ông mới có thời gian trau dồi chữ nghĩa. Tuy không trải qua khoa cử nhưng ông rất thông minh, tài giỏi nên được vua tin cậy giao cho việc chép sử.

Ngày mùng 5 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1822), Quận công Nguyễn Văn Nhơn qua đời. Thương tiếc vị danh thần, vua Minh Mạng bãi chầu 3 ngày, ngự giá đến ban rượu tế và câu đối: "Vọng Các hiệu tùng long, trực bả đan tâm huyền nhật nguyệt/Xuân Thành bi khứ hạc, do lưu chính khí tác sơn hà" (Vọng Các quyết phò vua, mãi rạng lòng son trong trời đất/Thành Xuân buồn mất hạc, vẫn còn nghĩa khí khắp non sông). Vua còn ban tự điền, bổng lộc, truy tặng tước Kinh môn Quận công, cho thờ ở Thế miếu và Trung hưng công thần miếu.

Trong khi đó người dân cũng rất kính trọng, ngưỡng mộ nhân cách, tài năng và công trạng của ông. Vì vậy linh vị ông được đưa vào phối thờ ở đình Tân Đông, xem ông như vị thần bảo hộ. Ngày xưa ở vùng Sa Đéc có rạch Sa Nhơn, nhưng người dân kiêng húy Nguyễn Văn Nhơn nên đọc trại thành rạch Sa Nhiên.

Hằng năm, việc cúng tế Quận công được tổ chức vào dịp lễ Kỳ yên tháng chạp ở đình, còn lễ giỗ tổ chức vào tiết Thanh minh. Con cháu hậu duệ dòng họ Nguyễn cùng người dân địa phương đến đây tảo mộ, làm lễ dâng hương cúng bái. (còn tiếp) 

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.