TP.HCM: Cơ hội 'ngàn năm có một' để trở thành đô thị toàn cầu

Đình Sơn
Đình Sơn
Tại Hội thảo "Đầu tư phát triển hạ tầng đồng bộ - Động lực tăng trưởng kinh tế và mở rộng không gian phát triển TP.HCM" do Báo Tiền Phong cùng Sở Xây dựng TP.HCM tổ chức ngày 16.10, TS. Trần Đình Thiên cho rằng, sau sáp nhập, TP.HCM đứng trước thời cơ "ngàn năm có một" để vươn tầm thế giới.

Cần có "siêu năng lực"

Theo TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng viện kinh tế Việt Nam, trong tầm nhìn 100 năm, đến năm 2030 TP.HCM sẽ là TP nổi trội ở Đông Nam Á, trở thành trung tâm châu Á vào năm 2045 và là đô thị toàn cầu từ năm 2075.

Hiện TP.HCM có năm không gian cơ hội là biển, bầu trời, lòng đất, không gian số và văn hóa, tạo điều kiện để trở thành mục tiêu trên.

Thành phố có thể trở thành trung tâm logistics khi các tuyến hàng hải dịch chuyển về phía Tây Bắc Thái Bình Dương. Phát triển "kinh tế tầm thấp" gắn với công nghệ cao và AI, xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo, đồng thời khai thác công nghiệp văn hóa và kinh tế đêm.

Về tổ chức không gian, khu vực TP.HCM cũ là "bộ não" điều phối và tài chính, Bình Dương là thủ phủ công nghiệp, Bà Rịa - Vũng Tàu là đầu ra logistics và cảng biển. Các điểm tựa gồm sân bay Long Thành, cảng Cái Mép - Cần Giờ, trung tâm tài chính quốc tế, Vành đai 4-5, đường sắt tốc độ cao và mô hình "thành phố 15 - 45 phút".

Nhưng để biến cơ hội thành kết quả, TS. Trần Đình Thiên cho rằng, "siêu đô thị" cần có "siêu năng lực".

TP.HCM: Cơ hội 'ngàn năm có một' để trở thành đô thị toàn cầu- Ảnh 1.

TP.HCM đang đứng trước cơ hội trở thành đô thị toàn cầu

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Theo TS Vũ Đình Ánh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường - giá cả (Bộ Tài chính), quy hoạch có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh TP.HCM đang hướng tới tầm nhìn 100 năm. Do đó, TP cần quy hoạch đồng bộ mạng lưới giao thông và các loại hình hạ tầng, trong đó có hạ tầng viễn thông, hạ tầng số.

Đặc biệt, cần quan tâm đến hạ tầng phục vụ trí tuệ nhân tạo, một xu thế có thể tạo ra những thay đổi lớn đối với phát triển kinh tế. Các dự án hạ tầng phải được triển khai đồng bộ về tiến độ, bảo đảm khả năng kết nối giữa các công trình. TP.HCM cần tính toán cụ thể nguồn lực thực hiện, bởi ngân sách nhà nước chỉ có thể đảm nhận một phần trong tổng nhu cầu đầu tư rất lớn.

Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách có hạn, trong khi quy mô và tính phức tạp của các dự án ngày càng lớn, nên sự tham gia của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng.

"Tôi kỳ vọng TP.HCM tiếp tục phát huy truyền thống sáng tạo, chủ động, đi đầu và dẫn dắt như trong thời kỳ đổi mới. Nếu phát huy được tinh thần đó trong những thập kỷ tới, TP.HCM sẽ có thêm động lực thực hiện các mục tiêu phát triển của mình, đồng thời đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nước", TS Vũ Đình Ánh đặt kỳ vọng.

TP đã chuẩn bị nguồn lực để triển khai

Ông Nguyễn Tường Văn, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, TP.HCM có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là đầu tàu, động lực phát triển kinh tế cho toàn quốc. Sau sáp nhập, đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại là một trong những đột phá chiến lược hàng đầu để TP duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững.

Theo ông, hạ tầng không chỉ là mạch máu giao thông kết nối mà còn là chìa khóa mở rộng không gian đô thị theo mô hình đa cực, đa trung tâm, giảm tải cho khu vực lõi lịch sử, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy logistics, phát triển cảng biển và cải thiện chất lượng môi trường sống của người dân.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy phát triển hạ tầng đô thị vẫn còn những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế thu hút nguồn lực, kết nối liên vùng và sự đồng bộ giữa quy hoạch hạ tầng với phát triển nhà ở, đô thị.

TP.HCM: Cơ hội 'ngàn năm có một' để trở thành đô thị toàn cầu- Ảnh 2.
TP.HCM: Cơ hội 'ngàn năm có một' để trở thành đô thị toàn cầu- Ảnh 3.
TP.HCM: Cơ hội 'ngàn năm có một' để trở thành đô thị toàn cầu- Ảnh 4.

TP.HCM đã chuẩn bị nguồn lực, giải pháp để thực hiện mục tiêu đề ra

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Ông Trần Quang Lâm, Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM nhấn mạnh, mọi nhiệm vụ phải được triển khai trên cơ sở quy hoạch, từ các chỉ tiêu sử dụng đất đến lộ trình thực hiện. Song song với quy hoạch tổng thể, TP tiếp tục kế thừa, rà soát các quy hoạch trước đây của TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu để bảo đảm tính đồng bộ trong tổ chức không gian phát triển.

TP đang đẩy nhanh đầu tư các tuyến hạ tầng khung, gồm đường Vành đai 2, Vành đai 3, Vành đai 4, các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường cửa ngõ và hệ thống kết nối cảng biển, sân bay.

Những dự án như cầu Cát Lái và các tuyến cao tốc đang triển khai sẽ góp phần tăng cường kết nối liên vùng. Mục tiêu là đến năm 2030, mạng lưới hạ tầng giao thông khung cơ bản được hoàn thành.

Đối với giao thông đô thị, TP.HCM xác định phải phát triển hệ thống đường sắt đô thị. Theo định hướng tại Nghị quyết 09, TP đặt mục tiêu phát triển ít nhất 200km metro đến năm 2030, trong khi mục tiêu đề ra là khoảng 255km. TP đã chuẩn bị nguồn lực và phương thức triển khai để hiện thực hóa kế hoạch này.

Về chống ngập, TP đang khẩn trương triển khai các dự án kiểm soát triều và hệ thống thoát nước. Đến năm 2050 mục tiêu giải quyết 50 điểm ngập lớn hiện nay.

Về giao thông công cộng, TP đề xuất mạng lưới đường sắt đô thị gồm 28 tuyến, tổng chiều dài khoảng 1.500 km, hướng đến đáp ứng 55 - 60% nhu cầu đi lại bằng giao thông công cộng vào năm 2050. Quy hoạch cũng gắn với phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), bảo đảm người dân có thể tiếp cận nhà ga trong khoảng 10 phút đi bộ.

Theo ông Trần Quang Lâm, một lợi thế khác của TP là hệ thống cảng biển. TPHCM đã xây dựng đề án phát triển cảng Cái Mép - Thị Vải gắn với cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, dự kiến triển khai các bước tiếp theo trong năm 2027.

Trong đó sản lượng thông qua cảng Cái Mép - Thị Vải hiện khoảng 11 triệu TEU, định hướng nâng lên khoảng 24 triệu TEU vào năm 2030. Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ cũng đã có chủ trương đầu tư và nhà đầu tư tham gia.

Bên cạnh hạ tầng kỹ thuật và xã hội, thành phố cần chú trọng hạ tầng số, ứng dụng bản sao số để nâng cao hiệu quả quản lý đô thị. Đồng thời, trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sụt lún nền đất, Sở Xây dựng đang rà soát các tiêu chuẩn thiết kế, dự báo ngập đối với hệ thống metro và công trình lớn, nhằm tăng khả năng chống chịu trước những rủi ro trong tương lai.

"Các dự án hạ tầng quy mô lớn cần thời gian chuẩn bị và huy động nguồn lực. Vì vậy, TP phải triển khai đồng bộ, kết nối hiệu quả các dự án, qua đó tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số", ông Trần Quang Lâm nói.

10 vùng quản trị phát triển

KTS Ngô Viết Nam Sơn, Chủ tịch NgoViet Architects & Planners, đề xuất TP.HCM xác định 10 vùng quản trị phát triển, đi kèm cơ chế tổ chức thực hiện cụ thể. Bởi mỗi vùng có lợi thế, điều kiện và động lực tăng trưởng khác nhau.

10 vùng quản trị phát triển gồm: Vùng lõi đô thị: Tài chính, quản trị, di sản. Vùng đổi mới sáng tạo phía đông: Thủ Đức, Dĩ An, Thuận An. Vùng Tây - Tây Nam: Cửa ngõ Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đô thị công nghiệp - dịch vụ Bình Dương. Vùng Bắc - Tây Bắc: Không gian sinh thái và dự trữ phát triển. Vùng Nam: Nhà Bè, Hiệp Phước. Vùng sinh thái biển Cần Giờ. Vùng cảng biển - logistics - công nghiệp - năng lượng Cái Mép - Thị Vải. Vùng du lịch biển: Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm. Đặc khu Côn Đảo.

Đây là khung quản lý lãnh thổ, trong đó mỗi vùng được xác định dựa trên chức năng chủ đạo, điều kiện đất đai, hạ tầng, môi trường, bản sắc và yêu cầu kiểm soát phát triển. Việc phân chia các vùng nhằm làm cơ sở tổ chức không gian đô thị, phân bố dân cư, việc làm, công nghiệp, dịch vụ, du lịch, không gian sinh thái và đầu tư hạ tầng phù hợp với đặc điểm từng khu vực.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.