RẤT NHIỀU NGHIÊN CỨU "CẤT TRÊN GIÁ SÁCH"
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM công bố 54 sản phẩm đăng ký tham gia đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ, nhằm đưa nhanh các sản phẩm nghiên cứu và tài sản trí tuệ được hình thành từ ngân sách nhà nước vào sản xuất, kinh doanh (gọi tắt là đề án).
Các sản phẩm do 29 tổ chức đề xuất, tập trung các lĩnh vực trọng điểm như UAV và kinh tế tầm thấp, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, đô thị thông minh, công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao… Tổng kinh phí triển khai các sản phẩm là hơn 500 tỉ đồng, trong đó ngân sách nhà nước dự kiến hỗ trợ hơn 200 tỉ đồng để hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm sản phẩm và bảo hộ tài sản trí tuệ.
Chính sách trên của TP.HCM xuất phát từ thực tế tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ nguồn vốn ngân sách rất hạn chế. Theo khảo sát của Trung tâm Thông tin và thống kê Khoa học và Công nghệ, trong giai đoạn 2014 - 2018, có 1.587 nhiệm vụ khoa học được nghiệm thu nhưng chỉ có 201 nhiệm vụ được thương mại hóa, tỷ lệ 13%.
Trong khi đó, có đến 591 nhiệm vụ (tỷ lệ 37%) đã ở mức độ hoàn thiện, sẵn sàng chuyển giao nhưng lại chưa được thương mại hóa. Hiện tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo ở TP.HCM chỉ đạt khoảng 5% số lượng nhiệm vụ đã nghiệm thu.

TP.HCM đang triển khai nhiều chính sách thúc đẩy thương mại hóa, đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh
ẢNH: SỸ ĐÔNG
Phần lớn kết quả nghiên cứu "cất trên giá sách" không chỉ lãng phí ngân sách, trí tuệ đã bỏ ra mà còn đánh mất cơ hội phát triển sản phẩm mới. Bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng phòng Phát triển Khoa học và Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM), nêu hàng loạt nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, từ thủ tục hành chính rườm rà, thiếu liên kết 3 nhà (Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp), thiếu tổ chức hỗ trợ thương mại hóa, thiếu kinh phí hoàn thiện công nghệ, thiếu cơ sở thử nghiệm…
Đặc biệt, quy định về chuyển giao kết quả nghiên cứu sử dụng vốn ngân sách chỉ thực hiện sau 3 năm đang là rào cản lớn nhất. Bởi lẽ, với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ thì sau 3 năm chờ đợi, kết quả không còn nhiều giá trị thương mại.
Để khắc phục những hạn chế trên, bà Sương cho biết đề án của TP.HCM sẽ thí điểm nhiều chính sách đột phá, chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong hoạt động nghiên cứu, thương mại hóa. "Đề án không chỉ là một chính sách thí điểm mà còn là cam kết mạnh mẽ của TP.HCM trong việc chuyển từ đầu tư cho nghiên cứu sang đầu tư cho giá trị tạo ra từ nghiên cứu", bà Sương nhấn mạnh.
GỠ ĐIỂM NGHẼN CHO NHÀ TRƯỜNG, DOANH NGHIỆP
Trao đổi với PV Thanh Niên, các doanh nghiệp, trường đại học đánh giá đề án của TP.HCM đã tháo gỡ đúng "điểm nghẽn" mà họ gặp phải nhiều năm qua.
PGS-TS Vũ Văn Phong, quyền Trưởng phòng Khoa học Công nghệ Trường đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM (tiền thân là Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM), cho biết khi phát triển thành sản phẩm ra ngoài thị trường, nhà trường gặp nhiều trở ngại về kinh phí, thủ tục và phân phối đến khách hàng. Cụ thể, kinh phí nhà trường chủ yếu chỉ đủ cho nghiên cứu ban đầu, trong khi để hoàn thiện sản phẩm cần nguồn vốn lớn cho thử nghiệm, sản xuất thử và cải tiến. Chưa kể, việc tiếp cận quỹ đầu tư hoặc doanh nghiệp hợp tác còn hạn chế, khiến nhiều sản phẩm dừng lại ở mô hình hoặc mẫu thử.
Về thủ tục pháp lý, quy trình liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ còn phức tạp và mất nhiều thời gian. Đặc biệt, đối với trường công lập như Trường đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM, việc sử dụng tài sản công và phân chia quyền lợi giữa nhà trường - giảng viên - nhóm nghiên cứu chưa rõ ràng. "Hiện chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể cho việc định giá sản phẩm sở hữu trí tuệ, dẫn tới khó khăn khi định giá để tham gia hợp tác với doanh nghiệp thương mại hóa", PGS-TS Vũ Văn Phong nêu thực tế.
Còn về phân phối sản phẩm tới khách hàng, giảng viên nhà trường có kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu, tạo ra các sản phẩm khoa học công nghệ nhưng thiếu kinh nghiệm về thị trường, marketing và xây dựng kênh phân phối. Sản phẩm nghiên cứu tuy có tính kỹ thuật cao nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn thương mại hoặc chưa phù hợp với nhu cầu thực tế.

Chiếc drone Vatomus S850 của Công ty TNHH Saolatek thử nghiệm bay giao hàng ở TP.HCM hồi tháng 1.2026
ẢNH: SỸ ĐÔNG
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Saolatek, Phó chủ tịch Liên minh Kinh tế tầm thấp (LAEP), cho biết trong lĩnh vực công nghệ, chi phí nghiên cứu - phát triển (R&D) cần nguồn lực lớn, đặc biệt ở giai đoạn đầu. Theo ông Tuấn, các chương trình gần đây của TP.HCM có chuyển biến rõ rệt khi đi vào hỗ trợ cụ thể, thực chất, thay vì chỉ dừng ở đề xuất.
Một vấn đề khác cũng được doanh nghiệp đề cập là thủ tục hành chính còn phức tạp, kéo dài. Theo ông Tuấn, với đặc thù R&D có nhiều rủi ro và sai số, việc áp dụng quy trình kiểm tra, thẩm định cứng nhắc sẽ gây cản trở. "Các chương trình hỗ trợ nên rút ngắn thời gian xử lý xuống 1 - 3 tháng, nếu kéo dài trên 6 tháng sẽ đánh mất thời cơ của doanh nghiệp", ông Tuấn nhìn nhận, đồng thời kiến nghị đơn giản hóa hồ sơ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận nguồn lực.
Đồng quan điểm, PGS-TS Vũ Văn Phong cho rằng cần đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và công nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ, làm rõ cơ chế phân chia quyền lợi giữa nhà trường, giảng viên và nhóm nghiên cứu. Bên cạnh đó, TP.HCM cần hoàn thiện cơ chế tài chính linh hoạt, tăng cường ngân sách hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm sản phẩm và cho phép sử dụng ngân sách nhà nước để đầu tư cho giai đoạn thương mại hóa.
Chuyên gia cũng mong các sở ngành đẩy mạnh kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp và kênh phân phối sản phẩm. Điều này sẽ giúp các kết quả nghiên cứu có tiềm năng được ứng dụng thực tiễn, tạo giá trị kinh tế - xã hội thay vì chỉ dừng lại trên lý thuyết.
MẠNH DẠN THÍ ĐIỂM, CHIA SẺ RỦI RO
Ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cho biết đề án lần này thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của thành phố dám thí điểm và dám chịu trách nhiệm, đồng hành, chia sẻ rủi ro, nhằm đưa khoa học công nghệ vào thực tiễn nhanh nhất.
Trọng tâm của đề án nằm ở 6 nhóm giải pháp đột phá, được thiết kế đúng vào những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đầu tiên là xác định giá trị tài sản rõ ràng, giúp các đơn vị công lập chủ động thương mại hóa mà không lo rủi ro pháp lý. Phần vốn nhà nước đã đầu tư trước đó không tính vào tỷ lệ đối ứng, tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia các giai đoạn tiếp theo. TP.HCM cũng áp dụng chi phí R&D làm giá sàn pháp lý trong giai đoạn đầu, giảm tâm lý sợ sai và đẩy nhanh đưa sản phẩm ra thị trường.
Các thủ tục giao quyền được rút ngắn, linh hoạt giúp kết quả nghiên cứu không chậm nhịp so với thị trường. Đặc biệt, ông Thắng cho biết TP.HCM sẽ hỗ trợ tài chính đến 50% kinh phí hoàn thiện sản phẩm, cùng doanh nghiệp chia sẻ rủi ro và thúc đẩy thương mại hóa. Ngoài ra, TP.HCM sẽ thí điểm chấp nhận và quản trị rủi ro khoa học, bảo vệ tổ chức, cá nhân làm đúng quy định, không hình sự hóa rủi ro khách quan.
Theo ông Thắng, chính sách thí điểm thúc đẩy thương mại hóa đặt doanh nghiệp vào vai trò trung tâm trong khai thác công nghệ. TP.HCM kỳ vọng sau 3 năm thí điểm, đề án sẽ đưa ít nhất 10 sản phẩm khoa học công nghệ ra thị trường, hình thành các quan hệ hợp tác chiến lược bền vững, từng bước nâng tỷ lệ thương mại hóa tài sản trí tuệ lên 8 - 10%.
Giám đốc điều hành Công ty TNHH Saolatek Trần Anh Tuấn cho biết gần 3 năm qua, doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển 2 sản phẩm thiết bị bay không người lái gồm một sản phẩm phục vụ giáo dục và đào tạo và một sản phẩm hỗ trợ cứu hộ cứu nạn, an ninh. Cả hai đều đã tiệm cận giai đoạn thương mại hóa, trong đó chiếc Vatomus S850 đã tham gia chương trình thử nghiệm bay giao hàng tại Khu Công nghệ cao TP.HCM hồi tháng 1.2026. Công ty Saolatek đã đăng ký 2 sản phẩm này tham gia đề án.
Theo ông Tuấn, khi sản phẩm gần hoàn thiện, doanh nghiệp cần nhất là cơ chế hỗ trợ thương mại hóa nhanh, đặc biệt là cơ hội tiếp cận khách hàng và đơn hàng thực tế.
TP.HCM đang có nghiên cứu cơ chế mua sắm công đối với sản phẩm công nghệ đang ở giai đoạn thử nghiệm hoặc tiền thương mại hóa. Đây được xem là "đòn bẩy" quan trọng giúp doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm thông qua quá trình sử dụng thực tế.
"Việc cơ quan nhà nước đặt hàng, sử dụng trước không chỉ tạo đầu ra cho sản phẩm mà còn giúp doanh nghiệp đánh giá, điều chỉnh sản phẩm sát với nhu cầu thực tiễn. Thực tế cho thấy nhiều sản phẩm công nghệ khó tiếp cận thị trường không phải do chất lượng, mà do thiếu cơ hội thử nghiệm và kiểm chứng", ông Tuấn nói thêm.
Bình luận (0)