Chuyển từ "chạy theo công trình" sang "quản trị chủ động"
Theo Sở Xây dựng TP.HCM, hệ thống quy hoạch thoát nước và thủy lợi chống ngập hiện hành của thành phố được phê duyệt từ năm 2001 và 2008 đến nay đều đã hết hiệu lực, không còn phù hợp với bối cảnh mới. Trong khi đó, Đề án 299 về chống ngập và xử lý nước thải trước đây chỉ được thiết kế trên phạm vi TP.HCM cũ với diện tích hơn 2.000 km2.

Lần đầu tiên bài toán quản lý nước của TP.HCM được giải quyết theo lưu vực tự nhiên và liên vùng thay vì bị giới hạn bởi ranh giới hành chính
Ảnh: Phạm Hữu
Sau khi TP.HCM sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu, không gian đô thị đã được mở rộng lên quy mô cực lớn. Vùng siêu đô thị mới là một không gian phát triển liên thông về công nghiệp, dịch vụ và cảng biển, nhưng lại có sự khác biệt lớn về địa hình, thủy văn lẫn mức độ đô thị hóa. Thống kê toàn diện cho thấy toàn thành phố hiện còn 159 điểm thường xuyên ngập nước, trong đó khu vực TP.HCM cũ có 76 điểm, Bình Dương cũ 52 điểm và Bà Rịa-Vũng Tàu cũ 31 điểm.
Trong khi đó, những năm gần đây, các trận mưa cực đoan xuất hiện dày đặc vượt công suất thiết kế của hệ thống cống. Mực nước triều tại các trạm Phú An và Nhà Bè liên tục lập kỷ lục mới khi vượt ngưỡng 1,8 m. Song song, tình trạng sụt lún nền đất diễn ra nghiêm trọng, đi cùng tốc độ bê tông hóa nhanh, san lấp ao hồ làm mất đi khả năng thấm nước tự nhiên.
Bên cạnh áp lực ngập úng, bài toán ô nhiễm môi trường cũng ở mức báo động. Hiện toàn vùng phát sinh khoảng 1,97 triệu m3 nước thải sinh hoạt mỗi ngày, nhưng hệ thống hạ tầng hiện tại chỉ mới xử lý đạt chuẩn được khoảng 340.000 m3 (tương đương 17%). Phần lớn lượng nước thải còn lại vẫn xả trực tiếp ra hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai và vùng ven biển.
Sở Xây dựng thẳng thắn nhìn nhận cách tiếp cận cũ vẫn nặng về "xóa điểm ngập" cục bộ, thiếu tính quản lý rủi ro tích hợp và đầu tư chưa đồng bộ giữa công trình đầu mối với hệ thống thu gom. Trong bối cảnh mới, công tác chống ngập của TP.HCM đòi hỏi tư duy chiến lược dài hơi hơn.
Từ những phân tích trên, Đề án chống ngập và xử lý nước thải TP.HCM giai đoạn 2026 - 2060 (cùng kế hoạch hành động 2026 - 2036) được Sở Xây dựng thực hiện bằng một cách tiếp cận hoàn toàn mới: Nghiên cứu mối quan hệ tổng thể giữa khu vực thượng nguồn, đô thị trung tâm thấp trũng và vùng cửa sông ven biển trong một hệ thống nhất.
Việc đánh giá hiện trạng, xây dựng kịch bản và phân vùng rủi ro sẽ dựa trên lưu vực thoát nước thay vì ranh giới hành chính. Điều này giúp nhận diện chính xác hướng dòng chảy, các nút thắt thủy lực và tác động lan truyền của lũ. Chiến lược tổng thể sẽ được vận hành theo nguyên tắc "giữ - trữ - thoát", định hình lại vai trò của từng loại hạ tầng.
Cụ thể, với "hạ tầng xám" truyền thống thì tiếp tục hoàn thiện cống, đê bao, trạm bơm, nhà máy xử lý nước thải; với vùng hạ tầng xanh và xanh dương sẽ đặt trọng tâm vào các giải pháp dựa vào thiên nhiên như hồ điều hòa, không gian trữ nước, bề mặt thấm, phục hồi hệ thống kênh rạch và các vùng trũng sinh thái để giảm tải cho hạ tầng kỹ thuật.
Bên cạnh giải pháp công trình, đề án chú trọng nhóm phi công trình như: xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa bản đồ GIS, hệ thống cảnh báo sớm, kiểm soát lấn chiếm hành lang thoát nước và nâng cao nhận thức cộng đồng. TP.HCM sẽ nghiên cứu từ 2 - 3 phương án tổ chức điều phối chống ngập cấp thành phố để đáp ứng yêu cầu quản lý của một siêu đô thị liên vùng.
Quan trọng nhất là thuận theo tự nhiên
Đánh giá cao tư duy đổi mới của đề án mới, TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, nhận xét: quy hoạch mới thay đổi toàn diện cách tiếp cận nhờ 3 chiến lược nền tảng đột phá. Trước hết, đó là việc giải quyết bài toán thoát nước theo lưu vực tự nhiên và liên vùng. Nếu như quy hoạch cũ - điển hình là Đề án 299 - chỉ tự bó hẹp trong phạm vi ranh giới hành chính hơn 2.000 km² của địa bàn thành phố, thì đề án mới được thiết kế liên kết không gian sau sáp nhập đô thị để xử lý tổng thể mạng lưới sông ngòi toàn vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL. Bản chất của nước là dòng chảy liên tục, không bị ngăn cách bởi địa giới hành chính, vì vậy việc bắt tay liên tỉnh là con đường duy nhất để giải cứu siêu đô thị.
Chiến lược đột phá thứ hai là sự chuyển giao từ việc chỉ phụ thuộc vào "hạ tầng xám" như đê bao, trạm bơm, cống ngầm sang việc tích hợp chặt chẽ với "hạ tầng xanh". Khái niệm "giữ - trữ - thoát" được đưa vào làm kim chỉ nam, trong đó thành phố sẽ chú trọng xây dựng các hồ điều hòa, bảo vệ tối đa bề mặt thấm tự nhiên và phục hồi các vùng trũng sinh thái. Mục tiêu là giữ nước tại chỗ thay vì dồn toàn bộ áp lực tiêu thoát cho hệ thống đường ống, vốn đã quá tải.
Đặc biệt, chiến lược thứ ba là việc cập nhật toàn diện các thông số về biến đổi khí hậu và sụt lún nền đất. Đề án mới đã khắc phục triệt để việc dùng thông số mưa và đỉnh triều cũ đã lạc hậu, thay vào đó là tính toán dựa trên kịch bản nước biển dâng và lượng mưa cực đoan gia tăng theo thời gian thực.
Từ những thay đổi mang tính nền tảng đó, TS Phạm Viết Thuận nhận định quy hoạch mới có khả năng khắc phục được hầu hết các bất cập căn cơ của quy hoạch cũ. Cụ thể, đối với "căn bệnh" thông số lạc hậu khiến các công trình vừa xây xong đã lỗi thời trước vũ lượng mưa lớn và triều cường dâng cao, đề án mới đã giải quyết bằng cách thiết kế hệ thống chịu tải theo kịch bản cực đoan đến năm 2050 và tầm nhìn 100 năm. Khả năng khắc phục bất cập này được đánh giá ở mức cao vì chạm đúng vào thực tế thời tiết diễn biến phức tạp hiện nay.
Bên cạnh đó, quy hoạch cũng tích hợp đồng bộ hạ tầng nước trực tiếp vào Quy hoạch chung xây dựng thành phố. Sự hợp nhất này mang lại khả năng khắc phục rất cao, triệt tiêu hoàn toàn những mâu thuẫn về cốt nền đô thị. Đối với bài toán hệ thống thoát nước bị quá tải do tốc độ đô thị hóa và bê tông hóa quá nhanh, đề án đưa ra giải pháp bố trí không gian đô thị dành riêng cho nước, bảo vệ hành lang sông rạch và triển khai diện rộng các hồ chứa.
TS Phạm Viết Thuận cũng thẳng thắn lưu ý về một số rào cản. Đầu tiên chính là áp lực tài chính cực kỳ lớn. Để giải quyết cơ bản 159 điểm ngập toàn vùng tính đến năm 2030, thành phố cần nguồn vốn lên tới 348.000 tỉ đồng. Việc huy động và giải ngân dòng vốn khổng lồ này trong một thời gian ngắn là bài toán vô cùng đau đầu.
Bên cạnh câu chuyện nguồn vốn, tốc độ sụt lún nền đất cục bộ đang đe dọa trực tiếp đến tuổi thọ của các công trình chống ngập. Các dự báo cho thấy tốc độ lún bình quân của TP.HCM có thể đạt từ 0,52 - 0,7 m vào năm 2050 tùy thuộc vào từng khu vực địa chất. Nếu không kiểm soát chặt việc quy hoạch nghiêm ngặt, xây dựng và san lấp, đặc biệt là các vùng ven sông và lấn biển như Cần Giờ, công trình chống ngập toàn thành phố sẽ nhanh chóng mất tác dụng.
TS Phạm Viết Thuận nhấn mạnh: Để hiện thực hóa toàn bộ mục tiêu của đề án mới, TP.HCM cần một cơ chế giải ngân đột phá và kỷ cương tuyệt đối trong quản lý xây dựng, xử lý lấn chiếm kênh rạch. Quan trọng nhất vẫn là phải thuận theo tự nhiên để có đề án chống ngập phù hợp.
Mấu chốt của hạ tầng thoát nước nằm ở kích thước đường ống. Hiện trạng hệ thống thoát nước đô thị của thành phố phần lớn hiện nay chỉ có khẩu độ
800 mm, hoàn toàn không đủ sức tải lượng nước khi gặp mưa lớn. Do đó, bắt buộc phải nâng cấp hệ thống thoát nước có khẩu độ trung bình lên tới 2.200 mm. Song song, cần duy trì hệ thống thoát nước đô thị theo dòng chảy tự nhiên cho toàn thành phố theo đúng hiện trạng trước năm 2010, kể cả hệ thống kênh Đông và các kênh thủy lợi. Đây là yếu tố cơ bản nhất trong vấn đề giảm ngập bền vững.
TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM
Bình luận (0)