Trò chuyện với Thanh Niên bên thềm Ngày Doanh nhân Việt Nam, PGS-TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh: Nếu Đổi mới 1986 giải phóng sức sản xuất thì giai đoạn hiện nay đòi hỏi một cuộc "giải phóng năng lực phát triển" ở quy mô mới. Muốn vậy, Việt Nam không thể chỉ cơi nới mô hình cũ mà phải tạo dựng một thể chế phát triển mới, giải phóng nguồn lực và đặt doanh nghiệp Việt vào vị trí của những người mở đường.
80 năm trước, khát vọng lớn nhất của Việt Nam là độc lập thì hiện nay là khát vọng về một đất nước giàu mạnh, thịnh vượng, có vị thế. Theo ông, chúng ta cần phải làm gì để chuyển hóa khát vọng ấy thành sức mạnh dân tộc?
Câu hỏi rất căn bản, đụng đến điểm mấu chốt trong cách thức tạo sức mạnh quốc gia trong công cuộc phát triển hiện đại.
Việt Nam đã thắng trong các cuộc chiến tranh, kể cả với những đối thủ hùng mạnh bậc nhất thế giới. Với tinh thần tự cường, mỗi người dân Việt đều tự ý thức rằng trong thời bình, Việt Nam không thể là một dân tộc nghèo, hèn và lệ thuộc. Vì thế, mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, sánh vai các cường quốc năm châu" tự thân đã trở thành khát vọng máu thịt của cả dân tộc.
Nhưng tinh thần không tự nhiên chuyển hóa thành sức mạnh vật chất. Khát vọng không thể tự động trở thành động lực và nguồn lực phát triển kinh tế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt đoàn đại biểu doanh nhân tiêu biểu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam
Ảnh: TTXVN
Trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cơ chế "chuyển hóa sức mạnh" đó của Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý: "Dân tộc ta có lòng nồng nàn yêu nước. Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần kết thành một làn sóng mạnh mẽ, nhấn chìm bè lũ cướp nước và bán nước". Đó là công thức thành công của dân tộc trong chiến tranh, của cách mạng Việt Nam.
Nhưng trong thời bình, khi "người lính trở về làng", ai lo việc người đấy, bình yên với "những giấc mơ con" thì làm sao "kết" được tinh thần dân tộc trong mỗi người thành sức mạnh cộng đồng, thành nguồn lực, sức cạnh tranh Việt trong cuộc đua tranh phát triển toàn cầu?
Vấn đề còn khó hơn nếu đặt trong điều kiện kinh tế thị trường, khi lợi ích cá nhân, dù là chính đáng, nổi lên và lấn át? Khi cạnh tranh vì lợi nhuận trở thành động cơ nổi bật, dễ gây chia rẽ và xung đột xã hội?
Đối với Việt Nam, tôi cho rằng có hai lợi thế khi giải quyết vấn đề này.
Thứ nhất, kinh nghiệm của các "nền kinh tế thần kỳ" đi trước trong việc phát huy tinh thần dân tộc, biến chúng thành lợi thế - sức mạnh tuyệt đối trong công cuộc phát triển - như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây, Trung Quốc, cung cấp nhiều bài học quý báu.
Thứ hai, chính lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam là kho tàng kinh nghiệm vô cùng phong phú về cách thức biến khát vọng quốc gia thành sức mạnh chiến thắng.
Dựa trên 2 lợi thế đó, với cá nhân ông, người đã nhiều năm nghiên cứu kinh tế Việt Nam, cần có những giải pháp gì để chuyển hóa lợi thế thành năng lượng quốc gia?
Tôi cho rằng có ít nhất 4 việc cần phải làm.
Thứ nhất, đất nước phải có tầm nhìn xa, khát vọng lớn, được cụ thể hóa thành những mục tiêu lớn nhưng khả thi và một hệ giải pháp thông minh. Bởi vì chỉ có khát vọng lớn mới đủ sức liên kết những "giấc mơ con", biến chúng thành sức mạnh toàn dân. Nhưng mục tiêu cũng phải "xứng" với tài năng và khí phách Việt Nam.

Kinh tế tư nhân không cần ưu tiên, mà cần bình đẳng để bứt phá
Ảnh: D.H
Thứ hai, đua tranh quốc tế phải trở thành một cấu phần quan trọng của động lực phát triển quốc gia. Doanh nghiệp Việt Nam phải hiện diện xứng đáng trên thế giới. Trí tuệ Việt Nam phải có khả năng tỏa sáng quốc tế. Sự giàu có của người Việt và của quốc gia phải trở thành niềm tự hào dân tộc.
Thứ ba, nền kinh tế nhiều thành phần phải gắn kết các chủ thể khác nhau thành một động lực của kinh tế. Không thể chỉ nói có bao nhiêu doanh nghiệp. Vấn đề là chúng ta có một lực lượng doanh nghiệp Việt Nam đủ mạnh hay không, có khả năng cộng hưởng với nhau hay không, có tạo thành sức mạnh cạnh tranh quốc gia hay không.
Thứ tư, môi trường cạnh tranh thị trường phải được phát triển cao độ. Phải từ bỏ cơ chế xin - cho, phân biệt đối xử, những rào cản làm méo mó cạnh tranh. Khi nguồn lực được vận động thông suốt, khi người có năng lực được quyền phát huy năng lực, đó chính là cách cộng hưởng sức mạnh toàn dân tộc trong thời bình.
Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, 1945, 1986…, Việt Nam thường tạo ra bước chuyển lớn khi áp lực, giới hạn và kỳ vọng cùng tích tụ đến một ngưỡng nhất định. Ông có cảm nhận được trạng thái "tích nén" đó ở thời điểm hiện tại?
Tôi cho rằng cách tiếp cận "tích nén mâu thuẫn - bùng nổ phát triển" là một cách nhìn có cơ sở.
Đổi mới năm 1986 tạo ra một bước chuyển căn bản: Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế. Nhờ đó, nền kinh tế thoát khỏi cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, thay đổi quỹ đạo phát triển và tạo ra một khí thế mới.
Nhưng phát triển luôn là quá trình tích nén mâu thuẫn. Sau 40 năm Đổi mới, chúng ta vẫn chưa hoàn thành quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường hiện đại. Thể chế còn nhiều trói buộc, đặc biệt đối với khu vực tư nhân. Câu nói "thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn" đã khái quát tình trạng ấy.
Vì vậy, nếu không kịp thời "giải nén", khu vực tư nhân Việt Nam không thể đóng tròn vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế. Khi đó, nguy cơ tụt lại và tụt hậu trong cuộc đua tranh phát triển toàn cầu sẽ trở nên rõ hơn.
Nên với tôi, 2025 - 2026 như một "bản lề xoay chuyển tình thế", định hướng và đặt nhịp cho nền kinh tế Việt Nam trong 10 - 20 năm tới.
1945 chúng ta giải phóng dân tộc, 1986 giải phóng sức sản xuất, nếu phải gọi tên vấn đề Việt Nam cần "giải phóng" trong giai đoạn này, ông sẽ gọi đó là gì?
Tôi cho rằng đó là năng lực phát triển.
Việt Nam đang "dàn trận" rất lớn. Cả nước là một đại công trường, vừa của thời đại công nghiệp cơ khí, vừa của thời đại công nghệ cao; không còn chỉ nằm trong phạm vi "giang sơn" mà đã kết nối với thế giới.
Bên cạnh đó là nhiệm vụ tăng trưởng "hai con số" kéo dài hàng chục năm - một trọng trách lịch sử mà để hoàn thành, chỉ tính vốn tài chính thôi, cũng cần đến một lượng khổng lồ, lên tới 38,5 triệu tỉ đồng (chỉ tính cho 5 năm 2026 - 2030). Chưa kể các nguồn lực khác như nhân lực, tài nguyên, công nghệ… với các tiêu chuẩn rất cao.
Trước thế trận đó, cách tư duy - tiếp cận cũ không thể đáp ứng các yêu cầu quá "khủng" đó.
Vậy theo ông, chúng ta phải tư duy và tiếp cận thế nào để phù hợp với yêu cầu phát triển mới?
Sẽ không có câu trả lời có sẵn và dễ dàng, nhưng tôi cho rằng, việc trước hết phải làm là phải chuyển nhanh và triệt để sang một mô hình phát triển mới. Chúng ta đều hiểu, cái từng mang lại thành công trong quá khứ không bảo đảm cho thắng lợi tương lai.
Bên cạnh đó, phải biết chớp thời cơ nhưng cũng phải biết phân bổ nguồn lực hợp lý và khoa học. Tăng trưởng là cuộc đua dài hạn, không thể "dốc sức ngắn hạn, bừng dậy nhanh rồi lụi tàn sớm".
Tương tự, cách tiếp cận tăng trưởng dựa chủ yếu vào tăng vốn không sai, nhưng trong điều kiện Việt Nam hiện nay là chưa đủ. Chúng ta đang có một lượng vốn và tài sản rất lớn đã đầu tư nhưng chưa được sử dụng hiệu quả. Đó là hàng nghìn dự án bị nghẽn pháp lý, lượng vốn tồn đọng lên hàng triệu tỉ đồng. Nếu "thông" được những nguồn lực đang bị đóng băng này, có thể tạo ra hiệu ứng "hòn tuyết lăn": giải phóng vốn, kích hoạt dự án, tạo việc làm, tăng sản xuất và đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế.
Một vấn đề cũng hết sức cấp thiết phải tạo lập nhanh các điều kiện khả thi cho công cuộc cất cánh hiện đại. Đó là hạ tầng giao thông - đô thị, hạ tầng số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, phải xây dựng sớm những thiết chế kinh tế hiện đại như khu kinh tế số, khu thương mại tự do thế hệ mới, trung tâm tài chính quốc tế… thành những tọa độ hấp dẫn đầu tư hàng đầu khu vực và thế giới.
Vừa tối ưu hóa quá trình xây dựng hệ thống, vừa tạo sức hấp dẫn dòng vốn lớn là cách tạo "đôi cánh bay" hiệu quả cho nền kinh tế.
Nhưng quan trọng nhất theo tôi vẫn là nỗ lực tối đa để kinh tế tư nhân nhanh chóng trưởng thành, đủ sức thực hiện sứ mệnh động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, những trói buộc các doanh nghiệp hiện hữu vẫn còn nhiều; không gian cho các doanh nghiệp của thời đại mới - cả không gian cơ hội lẫn không gian thể chế còn rất chật hẹp, nguồn nhân lực chất lượng cho các doanh nghiệp Việt "go global", cho các chuỗi cung ứng toàn cầu do doanh nghiệp Việt "cầm cái" còn rất thiếu.
Khi nói thể chế là "điểm nghẽn" phát triển thì phải khẳng định vai trò "chủ lực phá vây" của nhà nước. Kiến tạo thị trường và đồng hành với doanh nghiệp vì thế, phải là trọng tâm xuyên suốt và chi phối mọi nỗ lực của Chính phủ. Rất hay là điều này đang được thể hiện ngày càng rõ trong thời gian gần đây.
Nhưng làm thế nào để khát vọng của từng doanh nghiệp không dừng lại ở những nỗ lực riêng lẻ mà hội tụ thành sức mạnh kinh tế quốc gia?
Vẫn là câu chuyện cơ chế, trong đó, cạnh tranh tự do là yếu tố quyết định. Bản chất sức mạnh của nền kinh tế thị trường là các nguồn lực phải được vận động thông suốt. Tắc nghẽn bất cứ khâu nào đều làm toàn bộ hệ thống suy yếu.
Cơ chế cơ bản để nguồn lực "thông" trong nền kinh tế thị trường là "cạnh tranh tự do". Cho nên, khi khẳng định "kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng", điều kiện tiên quyết là bảo đảm môi trường cạnh tranh tự do, bình đẳng. Đây chính là sứ mệnh "kiến tạo - đồng hành" của nhà nước.
Về nguyên tắc, kinh tế tư nhân không cần "ưu tiên, ưu đãi". Nó cần sự bình đẳng. Do đó, nó đòi hỏi đoạn tuyệt với cơ chế "xin - cho" và phân biệt đối xử. "Thông" môi trường cạnh tranh tự do, nền kinh tế sẽ vận hành như một tổng thể sức mạnh quốc gia.
Trong điều kiện Việt Nam đi sau, đang chuyển đổi, phải giải quyết hàng loạt nhiệm vụ "khác thường" để tiến vượt - đuổi kịp, để có sức mạnh cộng hưởng cao nhất, cần thiết phải có kênh "hội tụ và phân bổ" nguồn lực do nhà nước quản lý vận hành. Kênh này cho phép tập trung cao độ sức mạnh, tận dụng kịp thời cơ hội, vừa hỗ trợ tích cực cho khu vực tư nhân còn yếu kém. Chính phủ đang vận dụng cơ chế này để tạo đột phá, duy trì bứt phá phát triển quốc gia.
Phối hợp của hai cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực nói trên sẽ tạo thế phát huy tối đa sức mạnh quốc gia. Nhưng cách làm hay luôn là không dễ thực hiện. Nguyên lý "chi tiêu ngân sách nghịch chu kỳ" rất khôn ngoan của kinh tế học vẫn thường bị bỏ lỡ sử dụng khi cần trên cả phạm vi toàn thế giới.
Chúng ta nói nhiều đến "thể chế là đột phá của đột phá", vậy theo ông cần có những đột phá hoặc "khoảng không gian thử nghiệm" chính sách thế nào để khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm của các doanh nghiệp, doanh nhân đóng vai trò "người mở đường" trong các lĩnh vực mới như công nghệ cao, chuyển đổi xanh, công nghiệp bán dẫn...
Theo tôi, đột phá thể chế quan trọng nhất ở Việt Nam hiện nay chính là "trao quyền". Hay như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói rất đơn giản, "để địa phương tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm".
Trao quyền cho các chủ thể thực chất là tin vào cơ chế cạnh tranh thị trường, tin vào năng lực chủ động sáng tạo của các địa phương, tin vào năng lực trỗi dậy của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, vào tinh thần yêu nước của người Việt.
Tin như vậy, chúng ta mới có được "sand-box", mới xây dựng được hệ sinh thái đổi mới - khởi nghiệp sáng tạo đúng nghĩa.
Tất nhiên, trao quyền không tự động tạo ra sự phân bổ nguồn lực hợp lý và cách điều hành thông minh. Trao quyền cần phải đi liền với việc tăng năng lực vận hành của bộ máy. Thể chế phát triển phải tạo ra tương lai, không chỉ quản lý hiện tại.
Nếu đích đến là Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, theo ông chúng ta cần xây dựng một "thể chế phát triển" khác với một hệ thống pháp luật đơn thuần như thế nào?
Tôi nhìn thấy có hai tuyến sự kiện "mới toanh" đáng được gọi là "đột phá tầm nhìn và hành động" theo hướng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển trong 20 - 30 năm tới.
Đó là Chương trình điều chỉnh quy hoạch quốc gia - Vùng và địa phương cấp tỉnh song song với việc ban hành luật Thủ đô (mới) và luật Phát triển đô thị (9.2026). Cả hai tuyến sự kiện này đều hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam thành quốc gia phát triển vào năm 2045. Trong đó, một tuyến định hình không gian phát triển (cơ cấu) và một tuyến định hướng xây dựng nền tảng thể chế mới của quốc gia. Tôi hình dung đó là đôi cánh giúp Việt Nam bay tới tương lai.
Nhưng tôi nhấn mạnh rằng việc xây dựng luật Thủ đô mới và luật Phát triển đô thị đều tuân thủ nguyên tắc "tạo hình mẫu thể chế cho đất nước" chứ không chỉ là tạo không gian thể chế đặc biệt có tính "đặc quyền" cho Hà Nội, TP.HCM hay một số đô thị "đi trước". Cách tiếp cận tiên phong - mở đường này sẽ giúp Việt Nam rút ngắn quỹ đạo xây dựng hệ thống thể chế quốc gia mới.
Nếu được gửi một thông điệp tới những "người mở đường", những người đang nỗ lực đưa nền kinh tế Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, ông muốn gửi gắm điều gì?
Tôi chỉ muốn nói một câu:
Thời thế tạo anh hùng.
Hãy tự mình phán xét "Thời" đã đến chưa để quyết định tạo "Thế" đúng, để không lỡ vận và để biến khát vọng thành hiện thực.
Về phần tôi, tôi tin vào vận hội của đất nước. Tôi tin vào trí tuệ của một dân tộc anh hùng, một dân tộc của những anh hùng.
Và giờ đây, tôi tin hai thứ đó đang kết tinh vào một lực lượng mới: doanh nhân Việt Nam, lực lượng đang được trao một sứ mệnh đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển quốc gia. Nếu 80 năm trước, một thế hệ người Việt đã đứng lên để giành độc lập, thì hôm nay một thế hệ người Việt khác phải đứng lên để tạo dựng vị thế.
Đó là hành trình từ lập quốc đến quốc gia phát triển.










Bình luận (0)