Chính phủ vừa ban hành Nghị định 109 năm 2026 (có hiệu lực thi hành từ ngày 18.5) quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có lĩnh vực luật sư và nhiều lĩnh vực khác.
Chủ tịch UBND cấp xã có quyền xử phạt luật sư đối với hành vi vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo, phạt tiền đến 25 triệu đồng.
Ngoài ra, Chủ tịch UBND cấp xã còn có quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Mức xử phạt đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư
Tại điều 10 của Nghị định 109 quy định chi tiết mức xử phạt về hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Cụ thể như sau:
Phạt tiền từ 1 - 3 triệu đồng
Đối với hành vi báo cáo không đúng thời hạn, không đầy đủ, không chính xác với cơ quan có thẩm quyền về tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

Chủ tịch UBND cấp xã còn có quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề của luật sư
ẢNH: MINH HỌA
Phạt tiền từ 3 - 7 triệu đồng
- Không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền về đề án tổ chức đại hội hoặc kết quả đại hội.
- Không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền về tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
- Tổ chức lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho luật sư không đúng quy định; không báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho luật sư; không gửi để đăng tải hoặc không đăng tải kế hoạch bồi dưỡng hằng năm và chương trình bồi dưỡng.
- Không phân công tổ chức hành nghề luật sư nhận người tập sự hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 7 - 10 triệu đồng
- Không phân công tổ chức hành nghề luật sư cử luật sư, hoặc không trực tiếp cử luật sư hành nghề với tư cách cá nhân tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.
- Đăng ký tập sự hành nghề luật sư, đăng ký gia nhập đoàn luật sư không đúng quy định của pháp luật và điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
- Không đề nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, hoặc đề nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư không đúng quy định của pháp luật.
- Cho người không đủ điều kiện tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư; cấp giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư cho người không đủ điều kiện.
- Gian dối trong việc xác nhận, cấp giấy chứng nhận tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ.
- Quyết định miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ cho người không đủ điều kiện.
- Không lập, quản lý, sử dụng sổ sách, biểu mẫu theo quy định.
Đối với hoạt động tư vấn pháp luật
Đối với hành vi vi phạm về hoạt động tư vấn pháp luật, điều 12 Nghị định 109 năm 2026 còn quy định như sau:
Phạt tiền từ 1 - 3 triệu đồng
Đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị cấp thẻ tư vấn viên pháp luật.
Phạt tiền từ 3 - 7 triệu đồng
- Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung thẻ tư vấn viên pháp luật.
- Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác ngoài khoản thù lao mà trung tâm tư vấn pháp luật, chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật đã thu.
- Lợi dụng danh nghĩa trung tâm tư vấn pháp luật, chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật, luật sư, cộng tác viên pháp luật để thực hiện tư vấn pháp luật nhằm trục lợi.
Phạt tiền từ 7 - 10 triệu đồng
- Xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật.
- Xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật.
- Tư vấn pháp luật cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc.
- Tiết lộ thông tin về vụ việc, cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.
Hình phạt bổ sung: tước quyền sử dụng thẻ tư vấn viên pháp luật, chứng chỉ hành nghề luật sư từ 6 - 9 tháng.
Ngoài những hành vi trên, Chủ tịch UBND cấp xã còn có thẩm quyền xử phạt liên quan đến luật sư ở nhiều hành vi khác nhưng mức phạt tối đa là 25 triệu đồng.
Sự khác biệt về xử phạt giữa Chủ tịch UBND cấp xã, tỉnh và Giám đốc Sở Tư pháp
Nếu như Chủ tịch UBND cấp xã chỉ được xử phạt luật sư lên đến 25 triệu đồng thì Giám đốc Sở Tư pháp có quyền phạt đến 40 triệu đồng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phạt đến 50 triệu đồng.
Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và Giám đốc Sở Tư pháp đều có quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Bình luận (0)