Việc hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) mở ra một kênh dẫn vốn hoàn toàn mới, kết nối trực tiếp nền kinh tế trong nước với các dòng vốn quốc tế, đặc biệt là tài chính xanh và vốn đầu tư dài hạn. Bài toán chiến lược hiện nay không chỉ dừng lại ở việc "huy động được bao nhiêu tiền", mà cốt lõi là làm thế nào để chuyển hóa dòng tiền toàn cầu thành động lực tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nơi "tiền quốc tế gặp cơ hội Việt Nam"
Là đơn vị đang tích cực theo đuổi kế hoạch tham gia Sở Giao dịch hàng hóa tại VIFC-HCMC, ông Trần Thanh Hải, Chủ tịch HĐQT Sở Giao dịch cà phê và hàng hóa Buôn Ma Thuột (BCCE), kỳ vọng đây sẽ là "cây cầu" đưa nguồn vốn ngoại trực tiếp đổ vào thị trường nông sản Việt Nam.

VIFC-HCMC dự kiến thu hút hàng chục tỉ USD từ nước ngoài
ẢNH: N.P
Dẫn chứng từ mặt hàng cà phê, ngành hàng xuất khẩu top đầu thế giới của Việt Nam, ông Hải thừa nhận các doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng. Nhưng sự xuất hiện của Sở Giao dịch hàng hóa tại VIFC-HCMC sẽ tạo ra bước ngoặt giúp tái cấu trúc nguồn vốn này thông qua cơ chế ký quỹ. Đơn cử, với kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2025 đạt khoảng 8,4 tỉ USD, nếu áp dụng tỷ lệ ký quỹ 10% trong 10 vòng quay (mỗi vòng khoảng 84 triệu USD), thị trường sẽ luôn duy trì thường xuyên nguồn tiền ký quỹ gần 100 triệu USD để hỗ trợ giao dịch. Nếu các ngân hàng tiếp tục chiết khấu khoản tiền này, người bán sẽ có thêm một nguồn vốn lưu động đáng kể.
"Các nhà nhập khẩu và rang xay quốc tế muốn đảm bảo nguồn cung ổn định, bắt buộc phải ký quỹ đặt mua trước. Nói cách khác, chúng ta bắt đầu đưa thẳng vốn của người mua toàn cầu vào chuỗi thu mua nông sản Việt Nam", ông Hải giải thích.
Theo ông Hải, trong những năm đầu, thị trường vẫn cần tham chiếu giá quốc tế (như giá Robusta trên sàn ICE) để từng bước xây dựng niềm tin với giới tài chính toàn cầu. Khi chứng minh được uy tín, thanh khoản và năng lực giao hàng, VIFC-HCMC sẽ trở thành nhà tạo lập thị trường đủ lớn. Lúc đó, chúng ta không chỉ bán nông sản (cà phê, gạo...) mà đang vận hành một hạ tầng tài chính để dẫn dòng vốn ngoại vào chuỗi giá trị hàng hóa Việt Nam. Đó mới là ý nghĩa lớn nhất của sàn giao dịch hàng hóa.
Thực tế nhiều thập niên qua, kinh tế Việt Nam chịu áp lực lớn từ sự phụ thuộc quá mức vào hệ thống tín dụng. Dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ lệ tín dụng nội địa do ngân hàng cung cấp trên GDP tại Việt Nam đã tăng từ 18,5% (năm 1995) lên vượt mốc 100% vào năm 2009. Đến năm 2025, con số này đã đạt 145% GDP, nằm trong nhóm cao nhất khu vực ASEAN.
Để giải bài toán nén áp lực lên hệ thống ngân hàng thương mại, VIFC-HCMC được kỳ vọng sẽ đóng vai trò như một "cửa ngõ" thu hút dòng vốn quốc tế. Chỉ sau 6 tháng đi vào hoạt động, VIFC-HCMC đã ghi nhận tổng vốn cam kết từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước đạt khoảng 20 tỉ USD. Các cấu phần chiến lược như tài chính hàng không và hệ sinh thái tài chính hàng hải đang dần định hình. TP.HCM cũng đang tính chuyện phát hành trái phiếu công trình thông qua VIFC-HCMC. Mục tiêu là huy động nguồn vốn dài hạn cho các siêu dự án về metro, hạ tầng cảng biển - logistics, và năng lượng.
"Nhìn về mốc 2035, thước đo thành công lớn nhất của VIFC-HCMC không chỉ nằm ở con số hàng tỉ USD thu hút được hay số lượng định chế tài chính hiện diện, mà là khả năng thay đổi căn bản cấu trúc huy động vốn của Việt Nam. Để duy trì bứt phá tăng trưởng, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho hạ tầng, đô thị, năng lượng, công nghệ và chuyển đổi xanh là rất khổng lồ. Nếu tiếp tục dồn gánh nặng này lên vai hệ thống ngân hàng, rủi ro về kỳ hạn nguồn vốn và an toàn hệ thống là cực kỳ lớn", PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, nói.

Dòng vốn đầu tư nước ngoài cần các dự án chuyển đổi xanh
ẢNH: ĐÀO NGỌC THẠCH
Theo TS Nguyễn Hữu Huân, VIFC-HCMC sẽ thiết lập một "đường ống dẫn vốn" đa chiều, giúp doanh nghiệp và dự án Việt Nam tiếp cận trực tiếp với các quỹ đầu tư, công ty quản lý tài sản, ngân hàng đầu tư và các nhà đầu tư tổ chức quốc tế. Thay vì chỉ quanh quẩn với các khoản vay tín dụng truyền thống, doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động phát hành trái phiếu quốc tế; tiếp cận nguồn vốn xanh và tài chính dự án (Project Finance); cấu trúc các quỹ đầu tư chuyên biệt và khai thác các công cụ tài chính thế hệ mới. Tới năm 2035, sự hình thành của một hệ sinh thái tài chính kiềng ba chân - nơi vốn ngân hàng, vốn thị trường nội địa và vốn quốc tế bổ sung cho nhau - sẽ là bảo chứng lớn nhất cho bước đi chiến lược của VIFC-HCMC trên bản đồ tài chính toàn cầu.
Đưa Việt Nam thành trung tâm chuyển đổi vốn của khu vực
Biến đổi khí hậu tại Việt Nam không chỉ là câu chuyện môi trường mà đã trở thành bài toán tài chính với quy mô cực kỳ lớn. Vì thế, áp lực vốn cho phát triển kinh tế bền vững đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Theo ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch Điều hành FiinGroup, để đạt cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 (COP26) và thích ứng biến đổi khí hậu, Việt Nam cần khoảng 368 tỉ USD vốn đầu tư bổ sung tính đến năm 2040. Con số trên nằm trong tổng nhu cầu khoảng 1.500 tỉ USD vốn đầu tư trong 5 năm tới, trong đó riêng hạ tầng đã chiếm tới 700 tỉ USD. Cả ngân sách nhà nước lẫn hệ thống ngân hàng thương mại đều không thể gánh vác khối lượng vốn này.
Trong khi đó, dư nợ tín dụng xanh cuối năm 2025 dù đạt khoảng 32 tỉ USD, tăng trưởng 17,9%/năm từ 2021, nhưng mới chỉ chiếm 4,6% tổng dư nợ toàn hệ thống. Quy mô trái phiếu bền vững dán nhãn lưu hành cũng chỉ ở mức 1,1 tỉ USD, khiêm tốn hơn nhiều so với ASEAN. Khoảng trống này khiến việc tiếp cận dòng vốn quốc tế trở thành điều kiện tiên quyết.
Trong bối cảnh đó, VIFC đi vào vận hành từ năm 2026 tại hai cơ sở TP.HCM và Đà Nẵng mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Sở hữu mô hình phân vai khác biệt. VIFC hướng tới mục tiêu trở thành cổng dẫn vốn xanh uy tín, thay vì chỉ đơn thuần là một địa điểm niêm yết mới. Ông Thuân khẳng định thị trường quốc tế không thiếu vốn xanh. Các quỹ đầu tư tác động, tổ chức tài chính phát triển và ngân hàng thương mại toàn cầu đều đang dư dả nguồn lực nhưng lại rơi vào tình trạng thiếu dự án đủ chuẩn để giải ngân. Vì thế nút thắt cốt lõi không nằm ở tiền, mà ở sự thiếu hụt các tài sản có thể định giá, kiểm chứng và quản trị rủi ro. Còn thứ chúng ta đang thiếu chính là năng lực chuyển hóa - năng lực biến các cam kết chính sách và nhu cầu khí hậu thành các công cụ đầu tư khả thi.
"Vì thế, VIFC cần được xây dựng như một trung tâm chuyển đổi vốn xanh - nơi tích hợp tài chính xanh vào từng trụ cột vận hành thay vì chỉ dán nhãn trang trí. Thước đo thành công của VIFC không nằm ở quy mô giao dịch hay ưu đãi thuế, mà ở khả năng truyền dẫn vốn thực tế: Bao nhiêu tiền xanh thực sự đến được tay doanh nghiệp và dự án tại Việt Nam", ông Nguyễn Quang Thuân khuyến nghị.
PGS-TS Nguyễn Hữu Huân khẳng định, tài chính xanh là lớp sản phẩm xuyên suốt của VIFC-HCMC nhằm kết nối nguồn vốn khổng lồ từ quốc tế với nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, trọng tâm hiện nay là phải nhanh chóng xây dựng được danh mục dự án xanh đủ tiêu chuẩn (Bankable project). Bên cạnh trái phiếu xanh truyền thống, theo ông Huân, hai giải pháp tài chính mới sẽ đóng vai trò đòn bẩy. Đầu tiên là tài chính chuyển đổi (Transition Finance), bởi không phải doanh nghiệp nào cũng có thể "xanh" ngay lập tức. Các ngành phát thải lớn như năng lượng, sản xuất, logistics, hàng hải, hàng không cần một lộ trình chuyển đổi nhiều năm. Tài chính chuyển đổi sẽ cung cấp nguồn vốn trung - dài hạn cho chính quá trình quá độ này. Thứ hai là tài chính carbon (Carbon Finance). Nếu hình thành được hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định và sàn giao dịch minh bạch, tín chỉ carbon sẽ chuyển hóa thành một loại tài sản tài chính. Điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra dòng tiền mới, trực tiếp gia tăng hiệu quả tài chính cho các dự án xanh tại Việt Nam.
Dòng vốn quốc tế thành một động lực tăng trưởng mới
Từ góc độ của ngân hàng thành viên VIFC-HCMC, đơn vị đã tiếp cận thành công khoảng 400 triệu USD vốn quốc tế (đặc biệt là tài chính xanh) để tài trợ cho doanh nghiệp trong nước, ông Võ Hoàng Hải, Phó tổng giám đốc Nam A Bank, nhận định: VIFC không chỉ là nơi quy tụ các định chế tài chính, mà đang từng bước trở thành "hạ tầng vốn" của nền kinh tế. Đây là nơi dòng vốn toàn cầu được huy động, cấu trúc và phân bổ hiệu quả vào các dự án trọng điểm của TP.HCM lẫn cả nước.
Việc tham gia VIFC giúp các ngân hàng bước ra khỏi giới hạn tín dụng truyền thống để chủ động đảm nhận những vai trò đa dạng hơn như tham gia toàn bộ chuỗi giá trị từ thanh toán xuyên biên giới, tài trợ thương mại, ngoại hối, cho vay ngoại tệ đến thu xếp vốn hợp vốn, tài trợ dự án, bảo lãnh phát hành, tư vấn M&A và quản trị rủi ro tỷ giá - lãi suất. Các ngân hàng thành viên sẽ đóng vai trò kết nối giữa nhu cầu vốn khổng lồ (hạ tầng, metro, logistics, năng lượng, chuyển đổi xanh) với dòng vốn từ các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và định chế tài chính toàn cầu. Thay vì chỉ cho vay đơn thuần, ngân hàng sẽ hỗ trợ chuẩn hóa hồ sơ dự án, thiết kế cấu trúc tài chính, xếp hạng tín nhiệm và phát hành các sản phẩm đầu tư đạt tiêu chuẩn quốc tế.
"VIFC giúp thay đổi căn bản tư duy: chuyển từ "đưa vốn quốc tế vào Việt Nam" sang chủ động "chuẩn hóa tài sản Việt Nam thành sản phẩm đầu tư toàn cầu". Ngân hàng thành viên lúc này không chỉ cấp tín dụng, mà trở thành nhà tổ chức vốn, nhà tư vấn và nhà tạo lập thị trường", ông Võ Hoàng Hải nhấn mạnh.
Theo PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, bài toán tăng trưởng giai đoạn tới về bản chất là bài toán vốn và hiệu quả sử dụng vốn. Nhu cầu vốn cho các siêu dự án như đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, cảng biển, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và chuyển đổi xanh là vô cùng lớn. Nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước và tín dụng nội địa, dư địa sẽ sớm chạm trần. Vì vậy Việt Nam cần chuyển từ tư duy "thu hút vốn nước ngoài" sang "huy động nguồn lực tài chính toàn cầu". Muốn vậy, chúng ta phải chuyển từ "mời gọi" sang "thiết kế sản phẩm" cho nhà đầu tư toàn cầu. "Việt Nam có nhiều dự án tiềm năng nhưng lại thiếu các sản phẩm đầu tư phù hợp về độ minh bạch, thanh khoản và cơ chế thoái vốn. VIFC-HCMC chính là công cụ thu hẹp khoảng cách này. Một dự án hạ tầng khi đưa vào VIFC sẽ được cấu trúc hoàn chỉnh: xác định dòng tiền, phân bổ rủi ro, xếp hạng tín nhiệm, chọn đồng tiền huy động và thiết lập cơ chế phòng ngừa rủi ro trước khi phân phối tới đúng nhóm nhà đầu tư mục tiêu.
Khi hàng trăm doanh nghiệp và dự án cùng triển khai theo quy trình này, Việt Nam sẽ hình thành một thị trường vốn quốc tế thực thụ, giúp mở rộng "bảng cân đối vốn" của toàn bộ nền kinh tế mà không tạo gánh nặng lên hệ thống ngân hàng thương mại", ông Huân lạc quan.
Đây cũng chính là vai trò chiến lược mà VIFC có thể đảm nhận: biến cơ hội tăng trưởng của Việt Nam thành những sản phẩm tài chính mà nhà đầu tư toàn cầu có thể đầu tư được.
Theo Quyết định số 04 của Hội đồng điều hành trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam, mục tiêu đến năm 2035, VIFC trở thành đầu mối kết nối dòng vốn trong mạng lưới tài chính châu Á - Thái Bình Dương và toàn cầu; phấn đấu lọt vào nhóm 75 trung tâm tài chính hàng đầu thế giới, nhóm 25 tại châu Á - Thái Bình Dương và đứng thứ 3 ASEAN theo Chỉ số Trung tâm tài chính toàn cầu (GFCI) hoặc bộ chỉ số quốc tế tương đương. Với định hướng này, VIFC được kỳ vọng trở thành một "hạ tầng" quan trọng để Việt Nam kết nối sâu hơn với dòng vốn toàn cầu, đồng thời biến lợi thế về thị trường, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước thành cơ hội đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.
Tôi cho rằng bước ngoặt thực sự của VIFC sẽ không phải là ngày một định chế tài chính lớn mở văn phòng tại TP.HCM, mà là ngày những dự án và doanh nghiệp Việt Nam có thể huy động vốn quốc tế thường xuyên, với chi phí cạnh tranh, thông qua một hạ tầng tài chính đặt tại Việt Nam. Khi đó, VIFC-HCMC không chỉ là một trung tâm tài chính theo nghĩa địa lý. Nó trở thành một phần của hạ tầng tăng trưởng quốc gia - nơi vốn toàn cầu gặp cơ hội của Việt Nam và từ đó được chuyển hóa thành nhà máy, tuyến metro, cảng biển, năng lượng xanh, công nghệ và những động lực tăng trưởng mới.
PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC










Bình luận (0)