Nghề xưa cố đô còn một chút này:

Tuyệt kỹ khắc mộc bản tranh làng Sình

Hoàng Sơn
Hoàng Sơn
06/02/2026 07:48 GMT+7

Nhắc đến tranh làng Sình, người Huế thường nghĩ ngay đến ông Kỳ Hữu Phước - nghệ nhân đã kỳ công vực dậy dòng tranh từng đứng trước nguy cơ thất truyền. Ít ai biết ngay tại chính ngôi làng này có một người đàn ông lặng lẽ giữ nghề khắc mộc bản - phần hồn cốt quyết định đường nét, bố cục và thần thái của tranh Sình.

NGHỆ THUẬT KHẮC TRANH NGƯỢC

Nếu nghệ nhân Kỳ Hữu Phước, đời thứ 9 của gia tộc làm tranh làng Sình (Lại Ân, P.Dương Nỗ, TP.Huế), được xem là người "giữ lửa" và đưa dòng tranh dân gian trở lại với nhịp sống hiện đại thì ông Phạm Công Khai (51 tuổi) là người duy nhất còn nắm giữ và thực hành trọn vẹn kỹ nghệ khắc mộc bản in tranh.

"Trong làng giờ gần như không còn ai làm nghề này nữa. Chỉ còn mình tôi nên cố níu lại chút gì đó để hậu sinh có thể hình dung về một làng nghề từng nổi tiếng trên cả nước", ông Khai trải lòng.

Nghề xưa cố đô còn một chút này: Tuyệt kỹ khắc mộc bản tranh làng Sình - Ảnh 1.

Là người có tay nghề điêu khắc rất cao, ông Phạm Công Khai có thể chế tác hàng chục loại mộc bản in tranh

ẢNH: HOÀNG SƠN

Dở dang việc học vì gia cảnh khó khăn, từ đầu những năm 1990, ông Khai quyết định theo người thân vào Đại nội Huế học nghề điêu khắc gỗ. Sau 3 năm cần cù với dùi, đục, kiên trì đi trên con đường đầy đá lởm chởm từ làng Sình đến Đại nội, cuối cùng ông cũng được thầy cho "ra nghề". Những năm đó, nhu cầu in tranh tết rất lớn. Nhiều nơi ở Huế, trong nam, ngoài bắc… người ta đặt tranh liên tục nên nhu cầu về khuôn in lúc nào cũng có. Vốn có tay nghề điêu luyện với lối điêu khắc tinh xảo, kỹ thuật cao nên khi tiếp cận với mộc bản in tranh, ông Khai nhanh chóng bắt nhịp và nắm được "bí kíp".

"Tranh truyền thống làng Sình trên dưới 100 mẫu, tương ứng chừng đó khuôn in, tôi đều phải khắc nhớ. Chỉ cần khách yêu cầu là tôi có thể tạc ngay mộc bản, thậm chí có ngay trong ngày…", ông Khai kể. Theo ông, nghề khắc mộc bản tranh không chỉ đòi hỏi bền sức tay mà còn thử thách về trí nhớ và tư duy hình ảnh, bởi người thợ phải khắc ngược hoàn toàn so với hình tranh hoàn chỉnh. Mọi đường nét, bố cục, chữ nghĩa đều phải đảo chiều trong đầu người thợ trước khi đục chạm gỗ. Chỉ cần sai một chi tiết nhỏ, khi in ra tranh sẽ méo hình, lệch thần thái, buộc phải bỏ cả tấm gỗ.

Nghề xưa cố đô còn một chút này: Tuyệt kỹ khắc mộc bản tranh làng Sình - Ảnh 2.

Dù sáng tạo khuôn in mới nhưng ông Phạm Công Khai vẫn dùng chất liệu giấy dó truyền thống, mực tự chế từ nguyên liệu đồng quê

ẢNH: HOÀNG SƠN

ĐỘC ĐÁO "TỔ HỢP" QUẢNG BÁ NGHỀ

Nói đến quãng thời gian tranh in máy tràn vào thị trường, ông Phạm Công Khai chỉ tặc lưỡi. Tranh công nghiệp rẻ, nhanh, in số lượng lớn, trong khi để làm xong một bức tranh thủ công phải mất nhiều thời gian hơn. Giá tranh vì thế cao gấp nhiều lần, không thể cạnh tranh. Nghề in tranh làng Sình dần bị đẩy ra bên lề, đứng trước ngưỡng cửa lụi tàn. Từ chỗ làm mộc bản không ngơi tay, ông Khai rơi vào cảnh thất nghiệp, buộc phải xoay sang chạm trổ đồ gỗ để mưu sinh.

Nghề xưa cố đô còn một chút này: Tuyệt kỹ khắc mộc bản tranh làng Sình - Ảnh 3.

Loạt mộc bản được khắc ngược hình tranh trên gỗ

ẢNH: HOÀNG SƠN

Thế nhưng, suốt quãng thời gian ấy, bộ đồ nghề khắc mộc bản vẫn được ông gìn giữ cẩn thận. Đến đầu năm 2025, khi quyết định quay lại với nghề, tính ra những cây đục, thước, dùi ấy đã theo ông gần 30 năm. "Tôi cũng giữ lại khá nhiều mộc bản gốc, có bộ hơn 30 năm, gỗ mòn phải phục chế. Nhưng nhờ còn bản gốc nên có thể làm lại y nguyên, không sai lệch", ông Khai kể.

Cơ hội để ông trở lại với nghề khắc mộc bản khi du lịch Huế phát triển, những nghề gắn với di sản bắt đầu được nhìn nhận lại. Ông xem tranh để khắc lại mộc bản, rồi lần mò theo trí nhớ vừa khắc vừa chỉnh sửa nhiều lần để hoàn thành các bộ tranh truyền thống. Mới đây, ông được đặt làm một bộ mộc bản 18 bức để trưng bày tại Hà Nội...

Ông Khai cho biết khác với tranh Đông Hồ chủ yếu để trang trí, tranh làng Sình sinh ra để phục vụ tín ngưỡng, được dùng trong các lễ cầu an, giải hạn, dịp tết và thường được hóa đi sau khi cúng. Do vậy, giá trị của tranh nằm ở ý nghĩa tâm linh gửi gắm trong từng hình vẽ. Tranh Sình có 3 nhóm chính: tranh nhân vật, tranh đồ vật, tranh con vật. Tất cả đều gắn với nhu cầu thờ cúng dân gian. Chính vì vậy, khi mở cơ sở đón du khách đến trải nghiệm, ông nhận ra chỉ những người thật sự tinh ý mới cảm được giá trị thẩm mỹ của các bộ tranh như Bát Âm.

Nghề xưa cố đô còn một chút này: Tuyệt kỹ khắc mộc bản tranh làng Sình - Ảnh 4.

Những ván gỗ khắc hình người dần hình thành dưới tay đục của ông Khai

ẢNH: HOÀNG SƠN

Nghề xưa cố đô còn một chút này: Tuyệt kỹ khắc mộc bản tranh làng Sình - Ảnh 5.

Ông Khai sáng tạo những mộc bản phù hợp thị hiếu của du khách

ẢNH: HOÀNG SƠN

Ngoài phục dựng tranh cổ, ông Khai còn làm thêm những mộc bản mới phục vụ du lịch, là những thắng cảnh xứ Huế như chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, Ngọ Môn… Dù vậy, với ông Khai, những gì thuộc về truyền thống thì nhất định phải giữ cho bằng được. Giấy in vẫn là giấy dó đặt riêng, mực tự pha từ những nguyên liệu đồng quê. Gỗ làm mộc bản phải là gỗ thị, gỗ mứt hoặc những loại gỗ rút nước tốt, thớ mịn để khi in, nét hiện ra sắc gọn.

Vừa tâm sự, ông Khai vừa đưa dùi nện xuống chiếc đục. Miếng dăm gỗ bật ra. Trên mặt gỗ, hình ảnh một người phụ nữ cầm đàn trong bộ Bát Âm dần hiện rõ. Bản thân mộc bản tranh Sình, ở khoảnh khắc ấy, đã là một tác phẩm nghệ thuật. Không gian của ông Khai vì thế không chỉ là nơi in tranh, vẽ tranh Sình mà còn là không gian trình diễn nghề khắc gỗ. Một "tổ hợp" nhỏ nhưng hết sức độc đáo đang hiện hữu giữa làng Sình. (còn tiếp) 

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.