Thế kỷ 17, các chúa Nguyễn trấn giữ xứ Đàng Trong và thực hiện chính sách "cư Nho mộ Thích". Tại thủ phủ Thuận Hóa hình thành nên một trung tâm Phật giáo lớn với sự du nhập của các dòng thiền Tào Động, Lâm Tế. Về sau, dòng Lâm Tế phát triển lớn mạnh với hệ thống chùa chiền, thiền viện rộng khắp.
Nguồn gốc của thiền phái Lâm Tế do thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền (không rõ năm sinh, mất năm 866 hoặc 867) sáng lập vào thời nhà Đường ở Trung Hoa. Đây là dòng thiền lớn và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Đến thế kỷ thứ 17, khi truyền vào Việt Nam, dòng thiền Lâm Tế đã truyền thừa được 33 - 34 thế hệ.
Năm 1680, trong bối cảnh Phật giáo Thuận Hóa mang đậm dấu ấn ảnh hưởng của các bậc cao tăng Trung Hoa thuộc dòng Tào Động và Lâm Tế, có một phật tử 13 tuổi từ Phú Yên tìm ra xứ Huế tầm sư học đạo. Chàng thiếu niên người Việt này về sau chính là thiền sư Liễu Quán, người sáng lập dòng thiền Việt - Liễu Quán.

Toàn cảnh chùa Từ Đàm hiện nay, xưa được tổ Minh Hoằng - Tử Dung khai sơn trên ngọn đồi có tên Hoàng Long sơn
ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN
Cậu bé mồ côi nguyện xả thân tìm đạo
Hành trạng tu học và chứng đắc của thiền sư Liễu Quán được ghi vào văn bia Vô lượng (Vô lượng tháp bi) bằng chữ Hán, hiện còn đặt bên trái (từ trong nhìn ra) tại bảo tháp tổ sư Liễu Quán dưới chân núi Thiên Thai (P.An Cựu. TP.Huế). Tấm bia đá dựng năm thứ 9 niên hiệu Cảnh Hưng (1748, vua Lê Hiển Tôn), đúng 6 năm sau ngày tổ Liễu Quán viên tịch. Văn bia do sư Thiện Kế, người cháu trong đạo của tổ Liễu Quán (bấy giờ đang làm sư ở chùa Tang Liên, Trung Hoa) soạn.
Theo bản dịch và chú giải của cố đại lão hòa thượng Thích Thiện Siêu, thiền sư Liễu Quán họ Lê, húy Thiệt Diệu, sinh vào giờ Thìn ngày 18.11 năm Đinh Mùi (1667) tại làng Bạc Má, H.Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên (nay thuộc xã Tuy An Bắc, tỉnh Đắk Lắk). Ngài mồ côi mẹ từ năm lên 6 tuổi. Năm 12 tuổi, trong một lần được thân phụ đưa đi chùa Hội Tôn ở Phú Yên lễ Phật, ngài gặp hòa thượng Tế Viên rồi xin hòa thượng xuất gia tại đây.

Tranh vẽ thiền sư Liễu Quán
ẢNH: TL
Đến năm 1680, khi hòa thượng Tế Viên viên tịch, ngài lên đường ra Thuận Hóa cầu pháp, học đạo với hòa thượng Giác Phong (khai sơn tổ đình Bảo Quốc ngày nay). Năm Tân Mùi (1691), sau hơn 10 năm học đạo tại Thuận Hóa, ngài xin phép trở lại quê nhà để đốn củi, phụng dưỡng cha già đang ốm bệnh.
Bốn năm sau, khi phụ thân qua đời năm Ất Hợi (1695), ngài ra Huế chính thức thụ giới Sa di với hòa thượng Thạch Liêm - Thích Đại Sán (tác giả sách Hải ngoại kỷ sự). Năm Đinh Sửu (1697), ngài tiếp tục thụ giới Cụ túc với Từ Lâm lão hòa thượng. Năm Kỷ Mão (1699), ngài đi khắp tòng lâm xứ Huế để tham cầu đạo pháp, tinh chuyên tu tập, với phát nguyện dù có xả bỏ thân mạng cũng quyết tìm ra chân giác với câu nói được ghi vào văn bia: "Có pháp gì cao siêu nhất, ta quyết bỏ thân mạng để theo pháp đó tu hành".
Nghe nhiều bậc thiền hòa các nơi nói có hòa thượng Tử Dung khéo dạy người niệm Phật tham thiền nhất, năm Nhâm Ngọ (1702), thiền sư Liễu Quán tìm đến Long Sơn tham yết, cầu pháp tham thiền và được hòa thượng Tử Dung trao công án thu nhận. Đây là một dấu mốc lịch sử, đánh dấu dòng thiền Lâm Tế chính thức rẽ nhánh sang đất Việt, mở ra dòng thiền Việt thứ 2, về sau phát triển lớn mạnh đến ngày nay. (còn tiếp)
Tóm tắt lịch sử dòng Thiền "tâm ấn"
Lịch sử Thiền tông "tâm ấn" lấy yếu chỉ cốt lõi là "Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật". Theo đó, sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu ni nhập niết bàn, y bát được trao truyền cho ngài Ma Ha Ca Diếp là vị tổ thứ nhất của thiền tông Ấn Độ. Từ ngài Ca Diếp đến tổ Bồ Đề Đạt Ma (sinh khoảng năm 470 - mất khoảng năm 543) là vị tổ thứ 28.
Sư tổ Bồ Đề Đạt Ma mang Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào khoảng năm 520, trở thành sơ tổ Thiền tông Trung Hoa. Từ sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma, tiếp tục truyền đến đời thứ 6 là lục tổ Huệ Năng (638 - 713). Lục tổ Huệ Năng có nhiều đệ tử, nhưng lịch sử ghi nhận 2 đệ tử có phả hệ truyền thừa mạnh mẽ về sau, gồm ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng (677 - 744) và ngài Thanh Nguyên Hành Tư (660 - 740).
Nhánh của ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng truyền xuống đời thứ 2 là Mã Tổ Đạo Nhất (709 - 788), đời thứ 3 là Bách Trượng Hoài Hải (720 - 814), đời thứ 4 là Hoàng Bá Hy Vận (chưa rõ năm sinh - mất năm 850), đời thứ 5 là ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền.
Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đã lập nên dòng thiền Lâm Tế và trở thành sơ tổ dòng Lâm Tế chánh tông, một trong những dòng thiền lớn và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiền tông Trung Hoa lẫn Nhật Bản. Đến thế kỷ 17, dòng thiền Lâm Tế, thế hệ thứ 34, được truyền sang Đàng Trong và rẽ nhánh thành dòng thiền Việt - Liễu Quán.










Bình luận (0)