Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Cội nguồn khởi phát

Bùi Ngọc Long
Bùi Ngọc Long
Thiền phái Liễu Quán do tổ sư Thiệt Diệu (1667 - 1742), hiệu Liễu Quán, sáng lập khoảng năm 1712 tại Thuận Hóa thời chúa Nguyễn. Đây là dòng thiền Việt thứ 2 (sau thiền phái Trúc Lâm) hình thành và phát triển mạnh mẽ, đưa xứ Huế trở thành kinh đô Phật giáo suốt chặng dài lịch sử.

Mời bạn đọc cùng Thanh Niên tìm về cội nguồn phát tích dòng thiền mang đậm dấu ấn Việt hóa, với phổ hệ truyền thừa sâu rộng phát triển rực rỡ cả trong và ngoài nước.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Cội nguồn khởi phát- Ảnh 1.

PV Thanh Niên tại khu bảo tháp tổ thiền Liễu Quán

ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN

Đàng Trong thời 'cư Nho mộ Thích'

Theo Việt Nam Phật giáo sử lược của hòa thượng Thích Mật Thể, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 1 trước Công nguyên. Nhưng chỉ đến khi xuất hiện thiền phái Trúc Lâm hồi thế kỷ 13 (mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ khai sinh), Phật giáo Việt Nam mới chính thức có tông phái riêng, nền tảng triết lý, hành đạo riêng với tư tưởng nhập thế đạo đời là một.

Tiếp đó, đến thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và thiền phái Lâm Tế nói riêng phát triển rất mạnh mẽ.

Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào định đô ở Thuận Hóa, khi đó là vùng "Ô châu ác địa" vốn là đất cũ của người Chiêm cùng với cư dân người Việt từ miền Bắc di cư vào. Để cảm hóa người dân nơi vùng đất mới, đi đến đâu chúa Nguyễn Hoàng cũng cho sửa chùa cũ, lập chùa mới như chùa Linh Mụ (năm 1601), chùa Sùng Hóa ở xã Triêm Ân (năm 1602, cùng ở TP.Huế), chùa Hoằng Phước, chùa Kính Thiên (Quảng Trị ngày nay)... Ông lấy ngũ giới của nhà Phật mà giáo hóa, vỗ về quân dân. Với chính sách thu dùng hào kiệt, thương dân rộng rãi, sưu thuế nhẹ, quân lệnh nghiêm, chợ không bán hai giá, người không có trộm cướp, đêm ngủ không phải đóng cửa..., nhân dân được an cư lạc nghiệp. Thuận Hóa trở thành nơi giao lưu hội nhập, với thuyền buôn ngoại quốc đến buôn bán ở Bao Vinh và Hội An đông đúc. Dưới sự trấn nhậm của chúa Nguyễn Hoàng, chỉ trong vòng 10 năm xứ Thuận Quảng trở thành nơi đô hội lớn, được bá tánh mến phục xưng tụng là chúa Tiên.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Cội nguồn khởi phát- Ảnh 2.

Quần thể tháp tổ Minh Hoằng - Tử Dung cùng lịch đại trú trì chùa Từ Đàm tại phía nam tháp tổ Liễu Quán ở P.An Cựu, được hòa thượng Thích Hải Ấn (trú trì thứ 10) cất bốc và tôn trí vào năm 2014

ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN

Các đời chúa Nguyễn về sau đều sùng mộ đạo Phật. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563 - 1635), con chúa Nguyễn Hoàng, được tôn xưng là chúa Sãi (chúa Bụt). Chính vì lẽ ấy mà trong hoàng tộc chúa Nguyễn luôn giữ lễ "cư Nho mộ Thích", tức lấy Nho giáo làm tư tưởng quản lý xã hội và lấy Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần vỗ về dân chúng.

Sau khi dời đô từ Kim Long về Phú Xuân năm 1687 (nay là Kinh thành Huế), chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái định hình lại toàn bộ cục diện phủ chúa ở Phú Xuân. Ông là vị chúa thứ 5 trị vì từ 1687 - 1691 (còn gọi chúa Ngãi, nhiều tài liệu ghi là Nguyễn Phúc Trăn), nổi tiếng khoan hòa và đức độ. Để định hình chính sách cai trị, thu phục nhân tâm, chúa Nguyễn Phúc Thái đã cho mời các thiền sư Trung Hoa đến Thuận Hóa truyền đạo, giảng kinh, mở giới đàn truyền thụ Phật pháp.

Hình thành trung tâm Phật giáo Thuận Hóa

Vùng tây nam Huế (phía nam sông Hương) thời điểm ấy là vùng hoang sơ thuộc dãy núi có tên Hoàng Long sơn. Tương truyền, dãy núi này có long mạch khắc chế đế quyền. Chúa Nguyễn Phúc Thái đã cho mời các nhà sư đạo cao đức trọng từ Trung Hoa đến khai sơn lập chùa truyền bá đạo Phật ở những vị trí đắc địa của long mạch dãy Hoàng Long để điều phục rồng thiêng, đổi tên vùng núi này thành Bình An sơn.

Điều này cũng trùng khớp với sự ra đời các ngôi chùa vùng tây nam Huế. Như chùa Báo Quốc, do hòa thượng Giác Phong (phái Tào Động, từ Trung Hoa) khai sơn. Chùa Từ Đàm do hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung khai sơn khoảng năm 1690. Chùa Quốc Ân do hòa thượng Nguyên Thiều (người Triều Châu, Quảng Đông, Trung Hoa, thuộc thế hệ thứ 33 của thiền phái Lâm Tế) khai sơn khoảng năm 1682 - 1684. Cả ba chùa này hiện thuộc địa phận P.Thuận Hóa.

Đến khoảng năm 1687 - 1690, chúa Nguyễn Phúc Thái tiếp tục cử sư Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh thêm cao tăng, kinh sách, pháp khí... Hòa thượng Thích Đại Sán (1633 - 1704), một thiền sư Trung Hoa, được chúa Nguyễn Phúc Chu (vị chúa thứ 6, con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Thái) mời sang Thuận Hóa. Sau chuyến đi, hòa thượng viết cuốn Hải ngoại kỷ sự thuật lại hành trình từ Trung Quốc đến Thuận Hóa, mô tả sinh động về cuộc sống và con người ở Đàng Trong.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Cội nguồn khởi phát- Ảnh 3.

Tháp tổ Minh Hoằng - Tử Dung cùng 4 vị trú trì kế tục được hòa thượng Hải Ấn quy tập và tôn trí tại phía nam tháp tổ Liễu Quán ở P.An Cựu. Các tháp tổ này nguyên táng tại khuôn viên chùa Từ Đàm, do thời Pháp mở đường Nam Giao nên di dời về chùa Bảo Quốc

ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN

Hải ngoại kỷ sự còn chép, lần đầu gặp mặt, Quốc chúa (chúa Nguyễn Phúc Chu) thưa rằng may mắn hòa thượng chẳng quản ngại đường sá xa xôi, nay "cầu xin rủ lòng, bảo cho đệ tử biết đường chánh để noi theo". Lúc đó, hòa thượng Thích Đại Sán đáp: "Lão tăng từ phương xa đến, được Quốc vương cung kính thân như cốt nhục. Vả lại thần dân trong nước thảy đều quy y Tam bảo, thực là một quốc gia ưa muốn làm lành rất hiếm có".

Nhận xét về cai trị xứ Đàng Trong, hòa thượng Thích Đại Sán thuật lại qua đoạn đối đáp: "Nay trong nước nhà vua, biên phòng nghiêm mật; tướng võ giỏi, tướng văn hay, quân đội oai hùng, chiến thuyền rực rỡ; chẳng những thời nay chẳng mấy nước được như thế, cho đến từ xưa lập quốc, quy mô rộng lớn cũng chẳng qua nhường ấy mà thôi".

Chính sách cai trị khoan hòa, chăm lo đời sống tinh thần, khuyến khích dựng chùa, truyền bá Phật pháp của các chúa Nguyễn đã hình thành nên trung tâm Phật giáo xứ Đàng Trong ở Thuận Hóa vào thế kỷ 17 trở đi. Từ đó, hệ thống chùa, tổ đình, tự viện, thiền lâm… dựng lên, gắn với sinh hoạt Phật giáo sôi động. (còn tiếp)

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.