TAND tỉnh Phú Thọ vừa mở phiên tòa phúc thẩm xét xử tranh chấp chia thừa kế giữa nguyên đơn là ông Tôn (71 tuổi) với bị đơn là bà Tứ (67 tuổi) và bà Tâm (65 tuổi).
Vụ án liên quan đến quyền lợi của 5 người là anh em cùng cha khác mẹ, xoay quanh 2 thửa đất rộng gần 5.000 m2.

Hội trường xét xử vụ anh em cùng cha khác mẹ kiện nhau chia thừa kế gần 5.000 m2 đất
ẢNH: TUYẾN PHAN
Tuổi xế chiều, anh em "đưa nhau ra tòa" chia thừa kế
Hồ sơ thể hiện, cha ông Tôn có 2 đời vợ. Với vợ cả, cụ ông có 3 con chung, trong đó ông Tôn là út. Sau khi vợ cả qua đời thì cùng năm 1955 cụ ông tái hôn với vợ thứ hai, có thêm 2 người con gồm bà Tứ và ông Thanh (chồng của bà Tâm).
Năm 1991, cụ ông mất, đến năm 2004 người vợ thứ hai cũng qua đời, đều không để lại di chúc. Tài sản để lại là 2 thửa đất rộng 1.100 m2 và 3.600 m2.
Ông Tôn cho rằng, sau khi cha mẹ qua đời, bà Tứ và ông Thanh đã tự ý chia tài sản. Bà Tứ được cấp sổ đỏ với mảnh đất nhỏ, ông Thanh được cấp mảnh đất lớn (sau này sang tên cho vợ là bà Tâm). Việc này không được sự đồng ý của anh em trong gia đình.
Do đó, ông Tôn khởi kiện, đề nghị hủy các sổ đỏ đã cấp, chia di sản thừa kế của cụ bà (vợ hai) là 2 mảnh đất nêu trên.
Ngược lại, phía bị đơn trình bày khi cha mẹ còn sống từng nói miệng cho ông Tôn mảnh đất nhỏ, nhưng vợ chồng ông trả lại và đến sống tại khu đất khác. Mảnh đất sau đó được cha mẹ cho bà Tứ.
Năm 2014, ông Tôn xin bà Tứ một phần đất cho con, bà Tứ đồng ý cắt 177 m2. Con trai ông Tôn xây nhà 3 tầng trên phần đất này, không ai ý kiến gì.
Còn mảnh đất lớn, theo nguyện vọng của cụ bà (vợ hai), hồ sơ kê khai sổ đỏ đứng tên ông Thanh. Sau khi ông Thanh mất, thửa đất sang tên cho vợ là bà Tâm.
Trước yêu cầu chia thừa kế của ông Tôn, bà Tứ và bà Tâm không đồng ý, vì đất đã chia và cấp sổ đỏ cho từng người. Nếu phải chia, hai bà sẽ nhường phần của mình cho nhau để không ai phải thanh toán gì thêm.
Người chị cả và chị dâu của ông Tôn (anh trai đã qua đời) thì nhất trí quan điểm của ông Tôn, đề nghị chia thừa kế và nhận di sản bằng đất.
Bị đơn kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị
Tháng 9.2025, TAND khu vực 11 xét xử sơ thẩm, nhận định mảnh đất nhỏ có nguồn gốc là của cụ ông và vợ hai. Do cụ ông chết từ năm 1991, đến thời khởi kiện đã hết thời hạn yêu cầu chia thừa kế (30 năm với bất động sản) nên 1/2 thửa đất (phần của cụ ông) thuộc về người đang quản lý tài sản là bà Tứ.
Với 1/2 còn lại là phần của cụ bà, khi còn sống cụ đã cho bà Tứ, các anh em đều biết và không ai phản đối, nên cũng thuộc về bà Tứ. Yêu cầu hủy sổ và chia thừa kế tại mảnh đất này là không có căn cứ.
Với mảnh đất lớn, tòa cho rằng nguồn gốc do cụ ông và vợ cả tạo lập. Sau khi vợ cả qua đời, cụ ông tái hôn, tự nguyện nhập vào khối tài sản chung với vợ hai. Do đó, mảnh đất này là tài sản chung của cụ ông và vợ hai.
Cũng với lý do hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế, tòa xác định phần của cụ ông là 1/2 mảnh đất lớn thuộc về người đang quản lý tài sản là bà Tâm và các con.
Một nửa còn lại là của cụ bà (vợ hai). Cụ mất năm 2004, đến nay vẫn trong thời hạn yêu cầu chia thừa kế, vì thế chia thành 6 phần. Năm người con mỗi người được một phần, riêng vợ chồng bà Tâm thêm một phần do có công quản lý, tôn tạo, duy trì khối di sản.
Sau khi tòa sơ thẩm tuyên, bà Tứ và bà Tâm kháng cáo. Viện KSND khu vực 11 cũng ban hành kháng nghị vì "có vi phạm về xác định thiếu người để lại di sản".
Viện kiểm sát cho rằng, cả 2 mảnh đất đều do cha mẹ cụ ông để lại, là tài sản chung của cụ ông và vợ cả, mỗi người có quyền sở hữu một nửa. Sau khi vợ cả mất, cụ ông tái hôn và nhập phần nửa của mình vào tài sản chung với vợ hai. Do đó, cần xác định vợ cả cũng là người để lại di sản thừa kế.
Theo lập luận của viện kiểm sát, trong tổng số gần 5.000 m2 đất, phần di sản của cụ bà (vợ cả) là 1/2, cụ ông là 1/4 và cụ bà (vợ hai) là 1/4.
Với mảnh nhỏ, viện kiểm sát đồng quan điểm với tòa. Riêng mảnh lớn, viện kiểm sát đề nghị chia lại theo tỷ lệ vừa nêu, trong đó bà Tâm được hưởng 3/4 (phần của cụ ông và vợ cả đã hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế); 1/4 còn lại chia thành 6 phần như tòa đã chia, nhưng diện tích mỗi phần giảm đi một nửa.

Vụ án chưa có hồi kết do tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì có sai sót về thủ tục tố tụng (ảnh minh họa)
ẢNH: TUYẾN PHAN
Hủy án vì vi phạm tố tụng nghiêm trọng
Tại tòa phúc thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn đều giữ nguyên quan điểm. Phía ông Tôn tiếp tục cho rằng các em tự ý chia di sản là không đúng, không ai hay biết.
Theo nguyên đơn, về nguyên tắc, sau khi cha mẹ qua đời, các em chỉ được quản lý 2 mảnh đất chứ không được chia bán. Song thực tế, bà Tân đã sang tên mảnh đất lớn cho mình rồi bán một phần cho người khác, đến lúc ấy sự việc mới bị phát hiện.
Phía bà Tâm thì khẳng định vợ chồng bà được cha mẹ cho mảnh đất lớn vì ở cùng và trực tiếp chăm sóc hai cụ.
Sau khi được cho đất, vợ chồng bà Tâm xây căn nhà mới, cùng cha mẹ sinh sống ổn định tại đây. "Nhà không phải xây ngày một ngày hai, anh em đều ở gần, không thể nói là không biết", bị đơn phân trần. Bà cũng cho rằng, khi làm thủ tục cấp sổ đỏ đứng tên chồng bà, hồ sơ niêm yết công khai 15 ngày nhưng không thấy ai phản đối, thế nên mới được cấp.
Luật sư của bà Tâm thì nêu tòa sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng khi không đưa Sở NN-MT tỉnh Phú Thọ tham gia tố tụng để làm rõ quá trình cấp các sổ đỏ, đồng thời "bỏ sót" con dâu bà Tâm nhằm làm rõ công sức tôn tạo, xây dựng các công trình trên đất.
Sau khi nghị án, tòa phúc thẩm chấp nhận một phần quan điểm của phía bị đơn, quyết định hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho TAND khu vực 11 để giải quyết lại.
Theo tòa phúc thẩm, nguyên đơn có yêu cầu hủy các sổ đỏ đã cấp, thế nhưng tòa sơ thẩm không đưa Sở NN-MT tham gia vụ án, là sai sót nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
Đối với việc chia thừa kế, tòa sơ thẩm xác định mảnh đất nhỏ thuộc về bà Tứ là có căn cứ. Nhưng với mảnh đất lớn, trước khi chia thừa kế, tòa sơ thẩm đã không xem xét đến tính hợp pháp của giao dịch chuyển nhượng khi bà Tâm bán một phần cho người khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của họ.
Bình luận (0)