Bảo đảm an ninh năng lượng đến năm 2030

Nguyên Nga
Nguyên Nga
Trong kỷ nguyên xe điện, an ninh năng lượng phải gắn với năng lực làm chủ công nghệ, chuỗi cung ứng và dữ liệu để bảo đảm tính tự chủ và phát triển bền vững.

Đó là nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo "An ninh năng lượng đến năm 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng" do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp Tạp chí Một Thế Giới tổ chức tại TP.HCM ngày 17.7.

Phát biểu khai mạc, TS Trần Văn Tùng, Chủ tịch VASTI, cho rằng sự phát triển của kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ cao đang khiến nhu cầu điện tăng nhanh. Trong khi quá trình chuyển dịch năng lượng xanh và biến động thị trường năng lượng toàn cầu tạo thêm nhiều sức ép. Vì thế, phát triển hạ tầng năng lượng không chỉ cần nguồn vốn mà còn phải khai thác hiệu quả tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực.

Tại hội thảo, ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), thông tin đến năm 2030 sản lượng điện thương phẩm của TP.HCM có thể đạt khoảng 75 tỉ kWh. Riêng các dự án AI Data Center trước mắt cần khoảng 200 MW điện. Thách thức không chỉ là đáp ứng công suất mà còn phải bảo đảm nguồn điện ổn định, liên tục, đòi hỏi đầu tư đồng bộ lưới điện, nguồn dự phòng và hạ tầng đấu nối.

Gỡ điểm nghẽn để bảo đảm an ninh năng lượng đến năm 2030 - Ảnh 1.

Các diễn giả tại trò chuyện tại tọa đàm "Đón sóng đầu tư AI Data Center"trong khuôn khổ hội thảo về an ninh năng lượng đến 2030

ẢNH: H.H

Ông Đỗ Văn Năm, Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), dự báo nhu cầu điện sẽ tiếp tục tăng mạnh đến năm 2030, với sản lượng điện thương phẩm đạt khoảng 160-165 tỉ kWh và công suất phụ tải cực đại gần 32.800 MW. Ông cho rằng cần đẩy nhanh đầu tư nguồn và lưới điện, phát triển năng lượng tái tạo và sử dụng điện hiệu quả để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng.

VGS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh doanh (Đại học Kinh tế TP.HCM), nhận định giai đoạn 2026-2030 là "cửa sổ cơ hội" để Việt Nam tháo gỡ các điểm nghẽn của ngành năng lượng. "Những nút thắt lớn nhất hiện nay là cơ chế tài chính, chính sách và hạ tầng truyền tải. Giá điện chưa phản ánh đầy đủ tín hiệu thị trường, trong khi lưới điện và hệ thống lưu trữ chưa theo kịp tốc độ phát triển năng lượng tái tạo", ông Vinh chỉ rõ.

Để bảo đảm an ninh năng lượng, GS Võ Xuân Vinh đề xuất ba ưu tiên gồm: cải cách thị trường điện theo cơ chế giá thị trường và tái cơ cấu EVN; hoàn thiện chính sách để thu hút đầu tư; đẩy mạnh đầu tư lưới điện, hệ thống lưu trữ năng lượng và các dự án điện gió ngoài khơi. Chỉ khi tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính và hạ tầng, Việt Nam mới có thể bảo đảm an ninh năng lượng và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng bền vững.

PGS-TS Huỳnh Thành Đạt - Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ - khẳng định, an ninh năng lượng không chỉ là bảo đảm nguồn cung cho phát triển kinh tế - xã hội mà đã trở thành yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh quốc gia và là nền tảng cho các ngành công nghệ chiến lược như AI, trung tâm dữ liệu, bán dẫn và điện toán đám mây. Năng lượng là "hạ tầng của hạ tầng", quyết định khả năng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và mô hình tăng trưởng mới. Do đó, cần khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng thông qua hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực doanh nghiệp và tăng cường hợp tác quốc tế, nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.



Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.