KPI hạn chế cào bằng, nể nang, đánh giá dựa trên cảm tính
Theo Sở GD-ĐT TP.HCM, việc triển khai thực hiện đánh giá, xếp loại dựa trên chỉ số hiệu suất công việc (KPI) không chỉ nhằm kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo có năng lực nổi trội, chấn chỉnh, sàng lọc, thay thế cán bộ hạn chế về năng lực, thiếu trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mà còn làm cơ sở để các địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện chi thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết số 98 của Quốc hội về thí điểm cơ chế chính sách đặc thù phát triển TP.HCM.

TP.HCM sẽ thực hiện đánh giá, xếp loại giáo viên và việc chi thu nhập tăng thêm dựa trên KPI
ẢNH: ĐÀO NGỌC THẠCH
Cụ thể nội dung đánh giá được lượng hóa trên thang điểm 100. Trong đó, đối với viên chức quản lý, tập trung vào một số nội dung có tính chất tiêu chuẩn chung gồm ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất chính trị, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình và trách nhiệm nêu gương, xây dựng mối đoàn kết nội bộ...
Đối với viên chức là giáo viên (GV) không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, tiêu chuẩn chung còn đánh giá tư duy đổi mới, chiến lược, khát vọng cống hiến, dám nghĩ dám làm, phối hợp công việc…
Một GV tại P.Bình Hưng Hòa cho biết đánh giá xếp loại áp dụng các trường hợp được xem xét tính điểm thưởng gồm cá nhân có thành tích nổi trội, có sản phẩm minh chứng cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ được giao đối với những công việc được xác định là quan trọng, phức tạp, có yêu cầu chuyên môn cao hoặc có ảnh hưởng lớn đến đơn vị. Mỗi công việc được xác nhận nổi trội, sáng kiến mới được tính điểm thưởng bằng 5% tổng điểm KPI đạt được của công việc cụ thể...
Trước quy định về việc đánh giá dựa trên KPI, nhiều GV tại TP.HCM nhìn nhận đây là hướng đi tích cực vì đánh giá viên chức dựa nhiều hơn vào sản phẩm, tiến độ và hiệu quả thực tế thay vì nhận xét thiên về cảm tính.
Theo thầy Phan Thế Hoài, GV Trường THPT Bình Hưng Hòa (P.Bình Hưng Hòa, TP.HCM), việc dành 70 điểm cho kết quả thực hiện nhiệm vụ giúp hạn chế cách đánh giá GV chủ yếu bằng những nhận xét chung chung như "có tinh thần trách nhiệm", "nhiệt tình", "chấp hành tốt". Thay vào đó, trọng tâm được đặt vào việc GV thực hiện nhiệm vụ, chất lượng công việc ra sao và kết quả đạt được ở mức nào.
Nếu các tiêu chí và chỉ số được công khai ngay từ đầu năm, GV sẽ biết rõ những nhiệm vụ nào cần ưu tiên, kết quả cần đạt và căn cứ nào được sử dụng để đánh giá. Điều này giúp GV chủ động theo dõi tiến độ công việc thay vì đến cuối năm mới biết được xếp loại. Đồng thời, nhà trường cũng có cơ sở để trao đổi, góp ý và hỗ trợ GV trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Đối với viên chức là giáo viên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, tiêu chuẩn chung còn đánh giá tư duy đổi mới, chiến lược, khát vọng cống hiến, dám nghĩ dám làm, phối hợp công việc…
ảnh: Ngọc Dương
Nhiều băn khoăn khi triển khai trong thực tế
Tuy nhiên, theo nhiều GV, khi triển khai xuống các trường, vẫn có những băn khoăn.
Một GV dạy ngữ văn cho biết kết quả giáo dục thường cần thời gian và chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố như năng lực, hoàn cảnh gia đình, tâm lý và ý thức học tập của học sinh (HS). Vì vậy, một giờ dạy tốt chưa chắc tạo ra kết quả ngay. Nếu quá chú trọng con số, KPI có thể chỉ đo được những gì dễ thống kê mà bỏ qua những giá trị quan trọng nhưng khó lượng hóa.
Còn nếu điểm đánh giá phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ HS khá, giỏi, kết quả thi, số lượng sáng kiến hay các cuộc thi, GV có thể chịu áp lực tạo ra những "con số đẹp", thay vì tập trung vào sự tiến bộ thực chất của HS.
GV dạy môn khác nhau, lớp khác nhau, số tiết và nhiệm vụ kiêm nhiệm cũng khác nhau nên điều kiện hoàn thành công việc không giống nhau. Vì vậy, ngoài tiêu chí chung, cần tính đến đặc thù môn học, đối tượng HS và khối lượng công việc.
Còn hiệu trưởng tại một trường trung tâm của TP.HCM chỉ ra thách thức thực tiễn khi "lượng hóa" môi trường giáo dục vì rất khó đo đếm giá trị vô hình. Sự tận tụy của GV chủ nhiệm hay hiệu quả của phòng tư vấn tâm lý học đường là những giá trị nhân văn không thể lượng hóa chính xác bằng các chỉ tiêu cứng.
Có GV cho biết lo ngại nhất là độ lệch giữa các đơn vị. Văn bản cho phép từng cơ quan, đơn vị cụ thể hóa tiêu chí phù hợp với vị trí công tác và đặc thù thực tế. Điều đó hợp lý về quản trị nhưng nếu không có cơ chế hiệu chỉnh chung thì cùng một loại công việc, trường A có thể chấm rất chặt, trường B lại chấm khá thoáng. Trong khi đó, kết quả KPI lại liên quan trực tiếp đến xếp loại và thu nhập tăng thêm, nên sự chênh lệch trong cách hiểu sẽ tác động trực tiếp đến quyền lợi viên chức.
Một điểm nghẽn khác là cách xác định "một đầu việc KPI". Hướng dẫn yêu cầu công việc phải rõ đầu ra, tiến độ, chất lượng và tránh trùng lặp. Tuy nhiên, trên thực tế, một trường có thể coi "thực hiện chuyên môn" là một đầu việc lớn, trường khác lại tách thành soạn bài, tập huấn, tài liệu, nhập dữ liệu, chữ ký số, sinh hoạt chuyên môn… thành nhiều đầu việc. Khi đó bảng KPI nhìn rất khác nhau dù khối lượng thực tế tương đương.
Ngoài ra, khó lượng hóa ranh giới giữa "hoàn thành tốt" và "vượt yêu cầu". Chất lượng sản phẩm phụ thuộc khá nhiều vào nhận định của người đánh giá, chỉnh sửa thế nào là "không đáng kể", thế nào là "đáng kể", sản phẩm nào đủ gọi là nổi trội. Đây là nơi rất dễ phát sinh khác biệt giữa các trường.
Bên cạnh đó, các nhiệm vụ dài hạn như nghiên cứu khoa học, câu lạc bộ, bồi dưỡng HS, hướng nghiệp hoặc một dự án kéo dài nhiều tháng đến cuối quý có thể chưa có kết quả cuối cùng. Khi đó phải xác định sản phẩm trung gian nào là đủ để chấm KPI. Nếu mỗi trường tự hiểu khác nhau thì người làm cùng một loại nhiệm vụ sẽ được ghi nhận khác nhau.
Một vấn đề khác là phân biệt nhiệm vụ thường xuyên, kiêm nhiệm và nhiệm vụ thực sự có độ khó cao. Hướng dẫn cho phép hệ số 100%, 110%, 120% tùy mức độ phối hợp, chuyên môn, tính phức tạp và ảnh hưởng. Nếu không có khung chuẩn tham chiếu, rất dễ xảy ra tình trạng nơi nào cũng cho rằng công việc của mình "phức tạp", hoặc ngược lại, có người phải phối hợp rất nhiều đơn vị nhưng vẫn chỉ được xem là nhiệm vụ thông thường.

Việc đánh giá dựa trên KPI, theo nhiều giáo viên tại TP.HCM, đây là hướng đi tích cực vì đánh giá viên chức dựa nhiều hơn vào sản phẩm, tiến độ và hiệu quả thực tế thay vì nhận xét thiên về cảm tính
ảnh: Đào Ngọc Thạch
Cần cơ chế giám sát sự chênh lệch giữa các trường
Cũng theo nhiều GV, vấn đề đáng quan tâm là cơ chế giám sát độ chặt - lỏng giữa các trường. Đây là điểm quan trọng nhất. Khi thu nhập tăng thêm gắn với kết quả KPI mà nguồn chi và chính sách là của thành phố, thì cần có cơ chế hiệu chỉnh chuẩn giữa các đơn vị. Không nhất thiết phải biến tất cả các trường thành giống nhau nhưng cần bảo đảm rằng GV ở trường này và GV ở trường khác, nếu có mức độ cống hiến tương đương thì không bị chênh lệch quá lớn chỉ vì cách chấm của đơn vị.
Do đó, với các GV, đánh giá theo KPI là chủ trương tiến bộ nhưng điểm nghẽn hiện nay không nằm ở ý tưởng mà ở sự đồng đều khi thực thi. Tự chủ cho từng trường là cần thiết, nhưng nếu thiếu chuẩn sàn, thiếu hiệu chỉnh liên trường và thiếu cơ chế kiểm tra độ chặt - lỏng thì rất dễ dẫn đến tình trạng cùng một mức độ cống hiến nhưng mỗi nơi lại được chấm bằng một thước đo khác nhau.
Nguy cơ trở thành một lớp hồ sơ hành chính mới
Nhiều GV cho rằng sẽ dễ gặp gánh nặng "minh chứng hóa" công việc bằng cách liên tục chụp ảnh, thu thập giấy tờ, điền biểu mẫu báo cáo. Quỹ thời gian quý giá lẽ ra dành để nghiên cứu tài liệu tập huấn hay kèm cặp HS yếu kém lại dành cho các thủ tục hành chính.
KPI được thiết kế để giảm cảm tính, nhưng nếu quản lý không khéo, GV có thể phải dành quá nhiều thời gian để chụp ảnh, lưu file, lập báo cáo, chứng minh từng đầu việc. Khi đó KPI từ công cụ quản trị hiệu quả lại có nguy cơ trở thành một lớp hồ sơ hành chính mới, trái với tinh thần của hướng dẫn là không làm phát sinh thêm thủ tục không cần thiết.











Bình luận (0)