Tầm soát nguy cơ đột quỵ không phải chỉ cần xét nghiệm máu hay chụp chiếu hình ảnh. Theo bác sĩ chuyên khoa 1 Đào Duy Khoa, Khoa Nội thần kinh, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, trước hết cần xác định những yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng đột quỵ, từ đó lựa chọn phương pháp kiểm tra và kiểm soát phù hợp với từng người theo chỉ định.

Tầm soát chỉ giúp phát hiện nguy cơ, việc xử lý và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ sau đó mới có ý nghĩa trong phòng ngừa đột quỵ
Ảnh minh họa: N.QUYÊN TẠO TỪ CHATGPT
Xét nghiệm máu chỉ là một phần
Bác sĩ Duy Khoa cho biết, trong y khoa, phòng ngừa đột quỵ gồm phòng ngừa tiên phát và phòng ngừa thứ phát.
Phòng ngừa thứ phát được thực hiện sau khi đã xảy ra đột quỵ, nhằm tìm nguyên nhân, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và giảm khả năng tái phát. Còn phòng ngừa tiên phát là khi chưa xảy ra đột quỵ, chủ động tìm các yếu tố nguy cơ và xử lý sớm để phòng ngừa. Theo đó, các yếu tố nguy cơ đột quỵ có thể chia thành nhiều nhóm:
Nhóm có thể kiểm soát được: Hút thuốc lá, thói quen ăn uống, béo phì, cao huyết áp, tiểu đường…
Nhóm không thể kiểm soát được: Tuổi, giới, gien.
Ngoài ra, còn có những tổn thương não mạch não được phát hiện tình cờ khi chụp hình ảnh não hoặc các nguy cơ mang tính ngẫu nhiên, may rủi.
Bác sĩ Khoa cho hay, chúng ta không thể thay đổi các yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát hoặc mang tính ngẫu nhiên. Vì vậy, tầm soát đột quỵ thường tập trung vào các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được; trong đó, xét nghiệm máu chỉ là một phần.
“Khi tầm soát, bác sĩ sẽ đánh giá nhiều yếu tố như thói quen, lối sống, chế độ ăn uống, các yếu tố nguy cơ, xét nghiệm máu và chụp chiếu khi cần. Sau khi tầm soát lần đầu, kế hoạch theo dõi tiếp theo và khoảng thời gian cần kiểm tra lại cũng sẽ tùy vào kết quả ban đầu”, bác sĩ Duy Khoa nói.
Bác sĩ nhấn mạnh, khi tầm soát cần cân nhắc giữa chi phí, lợi ích và rủi ro. Với người khỏe mạnh, không có triệu chứng hay dấu hiệu gợi ý, việc chụp hình ảnh não để tầm soát đột quỵ không phải chỉ định thường quy. Quyết định chụp cần được cá thể hóa, tùy thuộc vào yếu tố nguy cơ, hoàn cảnh, điều kiện, mong muốn, khả năng chi trả của từng bệnh nhân và rủi ro/lợi ích của phương pháp chụp chiếu đó mang lại. Ngoài ra, các xét nghiệm chuyên sâu hoặc tìm nguyên nhân hiếm gặp thường chỉ được thực hiện khi quá trình sàng lọc ban đầu cho thấy vấn đề cần đánh giá thêm.
Khám tổng quát không hoàn toàn thay thế tầm soát nguy cơ đột quỵ
Bác sĩ Duy Khoa cho biết, tầm soát nguy cơ đột quỵ có giao thoa một phần với khám sức khỏe tổng quát định kỳ, nhưng không hoàn toàn giống nhau. Khám tổng quát giúp rà soát các yếu tố sức khỏe cơ bản, song có thể chưa khai thác đầy đủ một số yếu tố nguy cơ chuyên biệt liên quan đến đột quỵ và các yếu tố nguy cơ mạch máu.
Vì vậy, nếu muốn đánh giá chuyên sâu nguy cơ đột quỵ, người dân có thể kết hợp khám sức khỏe tổng quát cùng với đánh giá các yếu tố nguy cơ đặc thù của đột quỵ tại chuyên khoa phù hợp, như khoa nội thần kinh.
Sau lần tầm soát đầu tiên, những yếu tố nguy cơ thường thay đổi như mỡ máu, đường huyết, huyết áp… cần được theo dõi định kỳ, còn một số kiểm tra hình ảnh nếu kết quả bình thường thì không nhất thiết phải lặp lại mỗi năm.
“Những người bị tăng huyết áp, tiểu đường, xơ vữa động mạch… cần được điều trị và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ đạt mục tiêu để phòng ngừa đột quỵ. Đặc biệt, sau khi tầm soát và phát hiện nguy cơ, người bệnh cần tuân thủ điều trị, theo dõi và kiểm soát các yếu tố này đạt mục tiêu. Tầm soát chỉ giúp phát hiện nguy cơ; việc xử lý và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ sau đó mới có ý nghĩa trong phòng ngừa đột quỵ”, bác sĩ Khoa khuyên.











Bình luận (0)