Đây là nỗi lòng của Kim Trọng khi nghĩ về Thúy Kiều. "Họa là" trong ngữ cảnh này nghĩa là may ra. Về từ "can qua", Hán - Việt từ điển của Đào Duy Anh giải thích: "Can là cái mộc, qua là cái mác = Binh khí - Chiến tranh". Vậy, ta nghĩ gì về từ "áng" trong cụm từ "can qua"? Khi nói "áng can qua", nghe ra có gì vô lý chăng?
Trước hết, với từ "áng" trong tiếng Việt có từ đôi "đồng áng", chẳng hạn ở ngoài Bắc, nhà văn Tô Hoài viết: "Tôi thường về quê vào cuối xuân khi làng vào đám hoặc đầu mùa đông, dịp đồng áng gặt hái" (Cỏ dại, 1944); trong Nam, nhà văn Hồ Biểu Chánh viết: "Vợ chồng Phụng vốn không ưng vì họ không muốn kiếm con dâu học cao, chỉ muốn kiếm con dâu đảm việc đồng áng để về giúp gia đình" (Tại tôi, 1938). Rõ ràng, "đồng áng" là cách nói phổ thông chứ không riêng biệt vùng miền, được hiểu là: "Đồng ruộng, công việc cày cấy trồng trọt nói chung", theo Đại từ điển tiếng Việt (1999).
Nếu khảo sát kỹ, căn cứ vào thơ cổ, ta thấy "đồng" và "áng" đều có nghĩa na ná, cũng tựa như khi nói heo cúi, chùa chiền, gà qué… Hồng Đức quốc âm thi tập có câu: "Một áng giao nguyên ngọc đúc nên"; hoặc Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng: "Áng đất phơi mỏ phượng còn in, kẻ rằng đài thượng nguyệt"... Áng trong ngữ cảnh này, ta hiểu là mảnh đất rộng chưa cày cấy, tất nhiên không thể sử dụng để giải thích từ áng/"áng can qua" trong câu thơ Truyện Kiều.
Không sao, ta tiếp tục tìm hiểu vì áng còn đèo thêm nhiều nghĩa khác nữa. Chẳng hạn, lúc nàng Kiều gặp Thúc Sinh, hai bên trò chuyện lấy làm tương đắc, khi nhìn thấy nàng: "Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên", chàng bèn cao hứng: "Ngụ tình tay thảo một thiên luật đường". Thế nhưng nàng không có thơ họa lại, bởi: "Lòng còn gửi áng mây vàng". Áng trong ngữ cảnh này, khiến ta nhớ đến các câu cùng nghĩa như "Danh thơm một áng mây nổi"; "Áng cúc thông quen vầy bậu bạn" (Quốc âm thi tập)… Các trường hợp này, áng lại có nghĩa là đám.
Với kiệt tác "Nam âm tuyệt xướng" của đại thi hào Nguyễn Du, có nhà nghiên cứu đánh giá: "Truyện Kiều đã trở thành áng văn chương trác tuyệt". Áng lại có nghĩa: "Từ dùng trong văn học, đặt trước một số danh từ gợi một ý đẹp hay lớn lao", theo Từ điển tiếng Việt (1977). Nói cách khác, áng dùng để chỉ tác phẩm văn học hay, có giá trị.
Áng còn có nghĩa là che khuất, thí dụ truyện thơ nôm Song tinh bất dạ có câu: "Đèn hoa áng bóng, chén bầu rượu say" là hiểu theo nghĩa này. Trong Nam ngày xưa có câu cửa miệng: "Áng bóng vía", theo Đại Nam quấc âm tự vị (1895): "Đem bóng mà che, đem hơi mà gàng, làm cho kẻ khác mất cái may, cái tốt. Khéo áng bóng vía".
Có một điều khiến chúng ta hết sức ngạc nhiên là hơn 350 năm trước, "áng" còn có nghĩa mà nay đã hoàn toàn mất dấu vết. Nghĩa gì? "Áng, áng ná: Cha và mẹ". Từ điển Việt - Pháp (1898) của J.F.M Génibrel có ghi câu: "Công áng ná". Từ "áng" đã mất, đã "tuyệt tích giang hồ" thì ngộ thay, từ "ná" vẫn còn nhưng lại biến âm thành "nạ" - ta có thể tìm thấy trong tục ngữ: "Chờ được nạ, má đã sưng", "Đòng đòng theo nạ, quạ theo gà con"…
Với các nghĩa này, ta sử dụng nghĩa nào để giải thích từ áng/"áng can qua"?
Không có nghĩa nào cả. Mà phải xét theo nghĩa "áng" cũng được hiểu là nơi tập hợp nhiều người vui chơi, ca hát hoặc diễn ra cảnh đua tranh. Từ điển Việt - Bồ - La (1651) cho biết: "Áng hát: Ngôi nhà trong đó trình diễn ca xướng và hát múa công cộng", "Áng hội: Ngôi nhà trong đó có làm một cuộc cung hiến nào đó, như đền thờ…". Hiểu theo nghĩa này, Đại Nam quấc âm tự vị cũng ghi nhận cụm từ "Áng bội bè: Chỗ ca hát, trường hát".
Nói cách khác, áng trong trường hợp này chính là từ chỉ vị trí, chỗ, nơi chốn. Từ đó, ta có thể giải thích những câu thơ như "Áng công danh, xem trễ nãi" (Bích câu kỳ ngộ), "Thờ ơ áng lợi, nền danh" (Nhi độ mai)… Và ngay cả câu thơ "Dấn mình trong áng can qua" là cũng hiểu theo nghĩa này.
Bình luận (0)