Lắt léo chữ nghĩa: Đậu phộng và lạc

Vương Trung Hiếu
Vương Trung Hiếu
21/03/2026 06:16 GMT+7

Nhiều người biết rằng đậu phộnglạc là 2 từ đồng nghĩa, cùng chỉ một loài cây thân thảo họ đậu, có tên khoa học là Arachis hypogaea, song vì sao gọi là đậu phộng lạc có lẽ không phải ai cũng biết.

Đậu phộng là cách gọi ở miền Nam và Nam Trung bộ, còn lạc là từ thuộc phương ngữ Bắc. Đậu phộng là từ đọc trại của đậu phụng. Trong Đại Nam Quấc âm tự vị (1895), Huình-Tịnh Paulus Của cho biết: "Đậu phụng. Thứ đậu có trái giống cái đầu con phụng, chính là đậu ép dầu mà thắp đèn, chữ gọi là lạc hoa sinh". Đến đây đã rõ, đậu phộng là cách gọi dựa vào hình dáng của loại đậu, còn lạc là từ viết gọn của tên loại đậu mà người Trung Quốc gọi là "lạc hoa sinh" (落花生), một từ đã được ghi nhận trong quyển Thực vật danh thật đồ khảo (Từ điển minh họa tên thực vật), do Ngô Kỳ Tuấn biên soạn vào thời nhà Thanh, xuất bản năm 1848 (triều đại Đạo Quang).

Trong quyển Petit dictionnaire français-annamite (1885), Trương Vĩnh Ký viết: "Arachide sf. Đậu phộng, (lạc T. = lạc-hoa c.)" - tr.110. Điều này khẳng định ít nhất là từ thế kỷ 19, đậu phộng đồng nghĩa với lạc. Trong hệ thống chữ Nôm, từ "lạc" (楽) thể hiện qua câu 𢬥豆楽 朋吉 (Rang đậu lạc bằng cát) trong quyển Technique du peuple Annamite (Kỹ thuật của người An Nam) của Henri Oger, xuất bản năm 1910 (tr.550).

Từ lạc (落) xuất hiện trong tiếng Việt từ nhiều thế kỷ qua, tiếp nối âm đời Đường là *lak (Âm vận phương ngôn); còn lạc hoa sinh có nghĩa là "hoa rụng xuống đất sinh ra quả", phản ánh tính thụ phấn của hoa, phần bầu nhụy chui xuống đất rồi phát triển thành quả. Xin lưu ý, nhiều người miền Bắc thường gọi là củ lạc, song trên thực tế đây là quả, vì vậy chính xác nên gọi là quả lạc.

Trong Điền Hải Ngu Hành Chí (Từ điển Vân Nam) của Đàn Thúy thời nhà Thanh, lạc là một trong nhiều tên gọi của đậu phộng. Tự dạng sớm nhất của lạc xuất hiện bằng chữ Triện, được tìm thấy trong các tác phẩm trước thời Tần (chẳng hạn như Kinh Thi). Lạc (落) là từ nhiều nghĩa, ở đây nghĩa ban đầu là "rơi, rớt".

Một số vùng của người Khách Gia gọi lạchoa sinh; lạc sinh; địa đậu; sách Cống Châu chí ghi là đậu nhân; lạc tùng địa; trường sinh quả; còn Nam Thành huyện chí gọi là trường quả; quả tử; phiên đậu; đồ đậu hoặc thổ đậu (thổ đậu còn là từ chỉ khoai tây)…

Nhật người ta gọi đậu phộng là rakkasei (ラッカセイ), viết theo Kanji là 落花生 (lạc hoa sinh); tên địa phương là địa đậu (dji mame, jīmāmi); đường nhân đậu (Tōjin mame), dị nhân đậu (Ijin mame) hay dōhassen, rōhassen, tức cách gọi "lạc hoa sinh" ở tỉnh Nagasaki; còn tên thực vật tiêu chuẩn là nankinmame (ナンキンマメ).

Trong các chuyến thám hiểm ở Tây Ấn, Charles Plumier, nhà thực vật học người Pháp đã mô tả và đặt tên cho các loài thực vật ở khu vực này. Năm 1703, ông biên soạn quyển Nova plantarum americanarum genera, đặt tên khoa học đầu tiên cho đậu phộng là Arachidna quadrofolia.

Đến năm 1753, nhà thực vật học Carl Linnaeus (Thụy Điển) đã mô tả đậu phộng trong quyển Species Plantarum (Giống loài thực vật), đặt danh pháp khoa học Arachis hypogaea. Ông đặt tên chi Arachis dựa vào tiếng Hy Lạp cổ ἄραχος (árakhos), nghĩa là "đậu, đậu vetchling"; còn tên loài hypogaea bắt nguồn từ tính từ Hy Lạp ὑπόγειος (hypógeios), bao gồm ὑπό (hupó, "dưới") + γῆ (guê, "trái đất") + hậu tố -ιος (-ios), có nghĩa là "dưới lòng đất".

Tóm lại, đậu phộng hay lạc (Arachis hypogaea) có nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ, về sau du nhập vào nhiều nước nên có tên gọi đa dạng tùy theo địa phương. 

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.