Đào tạo tiến sĩ: Giảm cơ sở để tăng chất lượng?

Mỹ Quyên
Mỹ Quyên

Từ nay đến năm 2030, dự kiến chỉ còn từ 50 - 60 cơ sở giáo dục ĐH đào tạo tiến sĩ. Trong bối cảnh nhiều ngành học, trường ĐH đang xoay xở với bài toán thiếu hụt giảng viên trình độ cao, việc này sẽ có tác động ra sao?

Theo Quyết định Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục (CSGD) ĐH và giáo dục nghề nghiệp công lập thời kỳ 2021-2030 (Quyết định 2249/QĐ-BGDĐT), sắp tới chỉ còn từ 50 - 60 CSGD ĐH đào tạo tới trình độ tiến sĩ, trong đó khoảng 50% là cơ sở trọng điểm phát triển theo định hướng nghiên cứu, giữ vai trò nòng cốt trong mạng lưới về đào tạo, bồi dưỡng nhân tài gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Khắc phục tình trạng nguồn lực phân tán

Trước điểm mới về quy hoạch CSGD đào tạo trình độ tiến sĩ, GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm, nguyên Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước ngành công nghệ thông tin, hiện là cố vấn cao cấp công nghệ thông tin, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và đào tạo Trường ĐH Quốc tế Sài Gòn, cho rằng chủ trương này phù hợp với định hướng phân tầng, tập trung đầu tư vào các cơ sở trọng điểm và gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học.

Ông nhận định: "Đây là một thay đổi mang tính cấu trúc rất lớn đối với giáo dục ĐH VN. Không nên hiểu đơn giản là "cắt giảm nơi đào tạo tiến sĩ", mà đúng hơn là tập trung năng lực đào tạo tiến sĩ vào một số trung tâm đủ mạnh về đội ngũ, nghiên cứu, phòng thí nghiệm, tài chính và môi trường học thuật".

Theo GS Kiếm, đào tạo tiến sĩ khác rất xa đào tạo ĐH. Mục tiêu của tiến sĩ là hình thành người có khả năng nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển tri thức mới và giải quyết những vấn đề mới của KH-CN. Muốn vậy, cần có đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu, hạ tầng tính toán. Nguồn kinh phí nghiên cứu ổn định, đề tài và dự án nghiên cứu đủ lớn, có mạng lưới hợp tác quốc tế, có cơ chế hướng dẫn, đánh giá và bảo đảm chất lượng nghiêm ngặt. Ngoài ra, số lượng nghiên cứu sinh (NCS) cũng phải đủ lớn để hình thành cộng đồng học thuật.

Đào tạo tiến sĩ: Giảm cơ sở để tăng chất lượng ? - Ảnh 1.

Giảm cơ sở nhằm tập trung năng lực đào tạo tiến sĩ vào một số trung tâm đủ mạnh về đội ngũ, nghiên cứu, phòng thí nghiệm, tài chính và môi trường học thuật

ẢNH MINH HỌA: NHẬT THỊNH

PGS-TS Phan Hồng Hải, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, cũng nhìn nhận: "Đây là chủ trương đúng và cần thiết trong quá trình sắp xếp lại hệ thống giáo dục ĐH theo hướng tinh gọn, hiệu quả và nâng cao chất lượng".

Theo PGS-TS Hải, đào tạo tiến sĩ là bậc đào tạo cao nhất, đòi hỏi đội ngũ khoa học mạnh, năng lực nghiên cứu, phòng thí nghiệm và nguồn lực đầu tư lớn. Vì vậy, việc tập trung còn khoảng 50 - 60 cơ sở sẽ khắc phục tình trạng nguồn lực phân tán, tạo điều kiện hình thành những ĐH mạnh và các trung tâm đào tạo, nghiên cứu có sức cạnh tranh. "Các trường sẽ phải xác định rõ thế mạnh, nâng chuẩn và liên kết với nhau thay vì cùng phát triển dàn trải. Quan trọng nhất không phải số lượng cơ sở được đào tạo tiến sĩ, mà là chất lượng tiến sĩ được đào tạo và những đóng góp thực chất cho KH-CN, đổi mới sáng tạo và phát triển đất nước", PGS-TS Hải cho hay.

Đầu tư tập trung, sử dụng nguồn lực hiệu quả

GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm nhận định lợi ích lớn nhất của việc giảm cơ sở đào tạo tiến sĩ là thay vì có rất nhiều nơi cùng đào tạo với năng lực khác nhau, nguồn lực có thể tập trung vào 50 - 60 trung tâm mạnh. Khi đó, mỗi trung tâm có khả năng hình thành nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, chương trình tiến sĩ, dự án nghiên cứu, công bố, bằng sáng chế, doanh nghiệp spin-off (nhằm thương mại hóa công nghệ, sáng chế, tài sản trí tuệ của trường), hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây mới là chuỗi giá trị của đào tạo tiến sĩ hiện đại.

"Thứ hai là hình thành các đầu tàu tri thức. Nếu khoảng một nửa trong số các cơ sở này được phát triển theo định hướng nghiên cứu, thì mục tiêu không chỉ là đào tạo tiến sĩ mà còn tạo ra những trung tâm sản xuất tri thức mới. Đây là điểm rất quan trọng trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI). Một quốc gia muốn đi từ ứng dụng công nghệ đến làm chủ công nghệ, sáng tạo công nghệ phải có các ĐH nghiên cứu đủ mạnh", GS Kiếm đánh giá.

Lợi ích thứ ba là sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Thay vì mỗi trường đều phải duy trì một hệ thống đào tạo tiến sĩ tương đối hoàn chỉnh, nhà nước có thể tập trung đầu tư vào một số nơi gồm giáo sư đầu ngành, phòng thí nghiệm trọng điểm, siêu máy tính/AI computer, cơ sở dữ liệu, quỹ nghiên cứu, học bổng... Như vậy, ít cơ sở hơn nhưng mạnh hơn, có thể tạo ra hiệu quả lớn hơn.

Liên kết mạng lưới đào tạo

Quy định về chuẩn CSGD ĐH và chương trình đào tạo các trình độ giáo dục ĐH của Bộ GD-ĐT đặt ra yêu cầu cao về tỷ lệ giảng viên tiến sĩ.

"Nếu một mặt yêu cầu các trường nâng tỷ lệ giảng viên tiến sĩ, nhưng mặt khác thu hẹp mạnh số cơ sở đào tạo, thì trong giai đoạn chuyển tiếp chắc chắn có áp lực. Đây chính là mâu thuẫn cần được giải quyết đồng bộ, buộc hệ thống phải chuyển từ mô hình "mỗi trường tự đào tạo tiến sĩ cho mình" sang "một số trung tâm đào tạo tiến sĩ - cả hệ thống cùng sử dụng nguồn nhân lực tiến sĩ". Nói cách khác, cần hình thành thị trường và mạng lưới đào tạo tiến sĩ liên trường", ông Kiếm nêu.

GS Kiếm đề xuất một cơ chế đặc biệt. Đó là "tiến sĩ liên kết theo hệ sinh thái". Chẳng hạn ĐH nghiên cứu A đào tạo tiến sĩ, Trường ĐH B, C, D cử giảng viên tham gia. Doanh nghiệp/phòng thí nghiệm cung cấp bài toán thực tế. Viện nghiên cứu cung cấp chuyên gia và thiết bị, đối tác quốc tế đồng hướng dẫn/đồng nghiên cứu...

"Như vậy, một NCS không nhất thiết phải thuộc về một trường. Có thể hình thành mạng lưới NCS liên trường. Điều này đặc biệt phù hợp với AI, bán dẫn, y sinh, môi trường, vật liệu mới... bởi các lĩnh vực này ngày càng liên ngành và vượt qua ranh giới một trường ĐH", GS-TSKH Kiếm chia sẻ.

Đối diện các rủi ro

Bên cạnh lợi ích, GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm đặc biệt lưu ý một số rủi ro. Thứ nhất là có thể tạo ra "nút thắt cổ chai". Khi từ hơn 175 cơ sở xuống còn 50 - 60, cung tiến sĩ giảm, nhu cầu giảng viên trình độ cao tăng dẫn đến cạnh tranh nhân lực tiến sĩ rất mạnh.

Thứ hai là khoảng cách vùng miền có thể tăng. Nếu các trung tâm đào tạo tiến sĩ chủ yếu tập trung ở Hà Nội, TP.HCM và một số đô thị lớn, giảng viên ở các trường địa phương sẽ khó tiếp cận hơn. Điều này đặc biệt đáng quan tâm với các trường đang phát triển.

Thứ ba, GS Kiếm cho rằng việc này có thể hình thành "độc quyền học thuật". Nếu chỉ một số ít được đào tạo tiến sĩ trong từng lĩnh vực, vị thế các trường này sẽ rất lớn, dễ dẫn đến tình trạng tập trung chất lượng trở thành tập trung cơ hội, tập trung đặc quyền.

Thạc sĩ Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và truyền thông Trường ĐH Công thương TP.HCM, cũng nhận định nguồn lực được tập trung vào những cơ sở có năng lực nhưng nguyên tắc là tập trung nhưng không đóng kín, phân tầng nhưng phải liên kết với nhau và với các nước.

"Quan trọng là xây dựng được một mạng lưới để nguồn đào tạo tiến sĩ phục vụ cho toàn hệ thống. Các trường trong nước cần liên kết với nhau để chia sẻ chuyên gia, phòng thí nghiệm và dữ liệu. Bên cạnh đó là liên kết với các trường nước ngoài để giảng viên, NCS VN có thể sang trường đối tác một thời gian nghiên cứu, làm việc cùng giáo sư quốc tế, sử dụng phòng thí nghiệm, thư viện và cơ sở dữ liệu hiện đại. Khi đó, một NCS có thể tiếp cận một mạng lưới học thuật rộng hơn rất nhiều", thạc sĩ Sơn đề xuất. Theo ông Sơn, lúc này việc tuyển sinh tiến sĩ cần chuyển từ tư duy "tuyển đủ chỉ tiêu" sang "tuyển đúng người có năng lực nghiên cứu".

PGS-TS Phan Hồng Hải cũng cho rằng tuyển sinh tiến sĩ cần gắn với người hướng dẫn, nhóm nghiên cứu và đề tài ngay từ đầu. "Quá trình đào tạo cần gắn chặt với hoạt động nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế, các nhóm nghiên cứu mạnh và hệ thống phòng thí nghiệm, qua đó tạo môi trường để NCS từng bước hình thành năng lực nghiên cứu độc lập và thực hiện các công trình có giá trị khoa học và thực tiễn", ông Hải chia sẻ.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.