Vì vậy, vấn đề không nằm ở sự hiện diện của văn hóa, mà ở khả năng chuyển hóa các giá trị văn hóa thành tác động thực chất trong từng lĩnh vực.

Hòa Minzy thành công với MV Bắc Bling nhờ sự kết hợp giữa tư duy biểu diễn hiện đại và di sản
ẢNH: NVCC
Nguồn lực nội sinh và hệ điều tiết
Thực tế đã có những chuyển động tích cực theo hướng này. Ở Nhà tù Hỏa Lò, tour đêm Đêm thiêng liêng cho thấy cách giá trị lịch sử được tổ chức lại thông qua công nghệ và trải nghiệm, qua đó tác động trực tiếp tới giáo dục nhận thức và hình thành ý thức công dân.
Trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn, các sản phẩm như Bắc Bling của Hòa Minzy hay chương trình Anh trai vượt ngàn chông gai phản ánh rõ một hướng chuyển hóa: bản sắc được đặt trong mối liên hệ với sáng tạo, công nghệ và thị trường. Có thể thấy bản sắc và sáng tạo, qua ngôn ngữ biểu diễn hiện đại và công nghệ đã lan tỏa thế nào trên thị trường đương đại.
Ở cấp độ cộng đồng, những mô hình như làng văn hóa du lịch cộng đồng Lô Lô Chải (Hà Giang cũ, nay là Tuyên Quang) hay bản Lao Chải (Lào Cai) cho thấy văn hóa có thể trở thành nền tảng cho sinh kế, gắn với nông nghiệp, môi trường và phát triển bền vững. Trong kinh tế, văn hóa tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị thông qua du lịch văn hóa và xây dựng thương hiệu. Trong đối ngoại, văn hóa trở thành một kênh quan trọng của sức mạnh mềm, góp phần lan tỏa hình ảnh quốc gia và gia tăng sức hấp dẫn trong quan hệ quốc tế.
Ở chiều sâu hơn, văn hóa với những giá trị cốt lõi luôn là nền tảng vững chắc hun đúc và làm nên ý chí, sức mạnh nội sinh của dân tộc. Trong lịch sử giữ nước, sức mạnh đó thể hiện ở tinh thần "Sát Thát", hay ý chí "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Nhìn rộng ra, trong cấu trúc nền quốc phòng toàn dân, văn hóa từ lâu đã là tiềm lực tinh thần, định hình ý chí, củng cố niềm tin và điều tiết hành vi xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, những giá trị ấy tiếp tục được chuyển hóa, gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sức mạnh nội sinh của phát triển.
Tuy nhiên, sự chuyển hóa này chưa đồng đều. Vì vậy, yêu cầu đặt ra từ Nghị quyết 80 là phải thiết lập được hệ điều tiết hiệu quả, bảo đảm văn hóa được tích hợp ngay từ đầu trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách của từng ngành, từng địa phương. Khi đó, văn hóa mới thực sự phát huy vai trò là nguồn lực nội sinh và yếu tố điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững.
Câu chuyện địa phương
Khi thực hiện Nghị quyết 80, vai trò của các địa phương rất quan trọng. Điều quan trọng trước hết là địa phương phải đi từ chính nguồn lực văn hóa của mình.

Trình diễn cổ phục trong nhà máy tại Lễ hội thiết kế sáng tạo Hà Nội
ẢNH: BTC
Để làm được như vậy, đầu tiên địa phương cần nhận diện và kiểm kê lại tài nguyên văn hóa một cách thực chất. Nếu không nhìn đúng và đủ nguồn lực như di tích, lễ hội, tri thức dân gian…, rất dễ dẫn tới tình trạng các chương trình hành động na ná nhau, thiếu bản sắc.
Bước thứ hai là lựa chọn trụ cột phát triển phù hợp. Mỗi địa phương không cần làm tất cả, mà cần xác định rõ mình có lợi thế ở đâu: di sản, nghệ thuật biểu diễn, thủ công, ẩm thực hay không gian sáng tạo đô thị…; từ đó hình thành một định hướng đủ rõ để tập trung nguồn lực và tạo khác biệt.
Bước thứ ba là tổ chức lại các nguồn lực thông qua cơ chế điều phối liên ngành. Văn hóa không thể triển khai riêng lẻ, mà phải gắn với giáo dục, du lịch, KH-CN, xây dựng, môi trường và cả khu vực doanh nghiệp.
Bước thứ tư là chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm và không gian cụ thể. Địa phương cần có lựa chọn thực tế và phù hợp. Có thể là sản phẩm du lịch, sản phẩm sáng tạo, sự kiện văn hóa, hay các nền tảng số. Đây là khâu rất quan trọng để văn hóa không chỉ dừng lại ở bảo tồn, mà tham gia trực tiếp vào phát triển.
Bước cuối cùng là xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá dựa trên dữ liệu. Địa phương cần biết rõ mình đang tạo ra giá trị gì từ văn hóa, đóng góp ra sao cho KT-XH, để có thể điều chỉnh chính sách kịp thời.
Trăn trở dữ liệu lớn
Dữ liệu lớn là một trong những vấn đề tôi và các đồng nghiệp luôn trăn trở nhất khi triển khai Nghị quyết 80, bởi nếu coi văn hóa là "hệ điều tiết" của phát triển, thì dữ liệu chính là hạ tầng của hệ điều tiết đó. Không có dữ liệu, chúng ta rất khó chuyển từ tư duy sang hành động, từ khẩu hiệu sang chính sách khả thi.
Hiện tại, vấn đề đầu tiên của dữ liệu văn hóa là còn đang phân tán và chưa chuẩn hóa. Dữ liệu về di sản, lễ hội, nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo, thị trường văn hóa… chưa liên thông và thu thập theo các tiêu chí khác nhau, dẫn đến khó tổng hợp và so sánh.
Thứ hai, dữ liệu còn thiên về "kiểm kê hành chính" hơn là "phân tích phát triển". Chúng ta biết có bao nhiêu di tích, bao nhiêu lễ hội, nhưng lại thiếu dữ liệu về giá trị kinh tế, sức lan tỏa xã hội, mức độ tham gia của cộng đồng hay khả năng kết nối thị trường.
Thứ ba, trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu văn hóa vẫn chưa được tích hợp vào hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, chưa kết nối hiệu quả với dữ liệu du lịch, thương mại, giáo dục hay công nghệ. Điều này khiến các ngành công nghiệp văn hóa khó phát triển theo logic thị trường hiện đại.
Vì vậy, nếu muốn Nghị quyết 80 đi vào đời sống, tôi cho rằng cần định hình lại cách tiếp cận dữ liệu theo 3 hướng lớn:
Một là, dữ liệu quản lý phục vụ phát triển. Ví dụ, không chỉ thống kê số lượng không gian sáng tạo, mà phải đo được hiệu quả kinh tế, khả năng tạo việc làm, mức độ thu hút du khách hay đóng góp vào GDP địa phương.
Hai là, xây dựng một "hệ sinh thái dữ liệu văn hóa quốc gia" có tính mở và liên thông. Hệ sinh thái này cần kết nối các lớp dữ liệu: dữ liệu di sản; dữ liệu chủ thể sáng tạo; dữ liệu thị trường; dữ liệu không gian. Quan trọng hơn, hệ thống này phải cho phép chia sẻ giữa T.Ư và địa phương, giữa khu vực công và tư, thay vì "đóng kín" trong từng cơ quan.
Ba là, gắn dữ liệu với các chỉ số đo lường phát triển văn hóa. Cần thiết kế cẩn trọng không nóng vội ngay từ đầu mối quan hệ giữa dữ liệu - chỉ số - chính sách, để mỗi quyết định đều có cơ sở định lượng.
Bình luận (0)