Doanh nghiệp xuất khẩu lo chi phí tăng, ảnh hưởng đơn hàng
Nhiều doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu giày dép, may mặc đang gặp tình trạng chậm cấp một số mẫu C/O quan trọng gồm C/O mẫu B cho các thị trường chưa hoặc không có FTA, đặc biệt là thị trường Mỹ; C/O mẫu E cho thị trường ASEAN và C/O mẫu VC theo Hiệp định Thương mại hàng hóa Việt Nam - Chile.
Theo Lefaso, nguyên nhân chậm trễ chủ yếu xuất phát từ việc chuyển giao cơ quan phụ trách cấp C/O từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) về Sở Công thương các địa phương.
Quá trình chuyển giao phát sinh yêu cầu doanh nghiệp đăng ký lại hồ sơ thương nhân tại cơ quan cấp mới. Thời gian xử lý hồ sơ có thể kéo dài lên đến 10 ngày, trong thời gian chờ phê duyệt doanh nghiệp không thể nộp hồ sơ xin cấp C/O, gây gián đoạn quá trình chuẩn bị chứng từ xuất khẩu. Bên cạnh đó, các Sở Công thương tại địa phương, đặc biệt Sở Công thương TP.HCM bị quá tải vì tiếp nhận lượng lớn hồ tư từ nhiều doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu đang phải tiếp nhận lượng hồ sơ lớn từ nhiều ngành hàng.
Lefaso cho biết, trong giai đoạn đầu chuyển đổi, quy trình và nguồn lực nhân sự chưa ổn định khiến thời gian rà soát, xét duyệt C/O có thể kéo dài. Việc chậm cấp C/O đang tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp và chuỗi cung ứng sang các thị trường trọng điểm như Mỹ, Chile và nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Singapore, Thái Lan...

Các doanh nghiệp xuất khẩu da giày lo lắng việc chậm cấp C/O khiến lịch giao hàng bị xáo trộn, ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp và có nguy cơ... mất khách hàng
ẢNH: Đ.N.T
Thứ nhất là phát sinh chi phí thuế và rủi ro tài chính khi các lô hàng cần C/O để được hưởng ưu đãi thuế quan, việc chứng từ không được cấp đúng thời điểm khiến doanh nghiệp hoặc đối tác nhập khẩu phải tạm nộp mức thuế cao, sau đó mới làm thủ tục hoàn thuế. Việc này gây mất thời gian, chi phí và gây đọng vốn lưu động.
Thứ 2, nguy cơ ách tắc logistics và tăng chi phí lưu kho. Tại các thị trường yêu cầu C/O ngay khi thông quan, việc chậm C/O khiến hàng hóa phải lưu tại cảng, phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi và nguy cơ bị phạt do chậm tiến độ giao hàng.
Thứ 3, với ngành da giày, may mặc, nơi đơn hàng thường gắn với lịch giao hàng chặt chẽ của các thương hiệu quốc tế, việc giao hàng và hoàn tất chứng từ không đúng tiến độ có thể làm xáo trộn kế hoạch phân phối của khách hàng, ảnh hưởng uy tín doanh nghiệp và về lâu dài có nguy cơ khiến đối tác cân nhắc chuyển đơn hàng sang quốc gia khác.
Thứ 4, Hiệp hội đặc biệt lưu ý rủi ro đối với C/O mẫu B khi xuất khẩu sang Mỹ. Dù không phải C/O ưu đãi thuế quan, nhưng chứng từ này có vai trò quan trọng trong việc chứng minh xuất xứ hàng hóa. Việc thiếu hoặc chậm C/O mẫu B khi vào thị trường Mỹ có thể làm gia tăng yêu cầu kiểm tra, xác minh xuất xứ và các rủi ro liên quan đến chính sách thương mại của thị trường Mỹ.
Đề xuất cơ chế chuyển tiếp
Để tránh ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu trong giai đoạn cao điểm, Lefaso kiến nghị Bộ Công thương cho phép chuyển tiếp tự động, kế thừa dữ liệu hồ sơ thương nhân đã đăng ký trên hệ thống eCoSys sang Sở Công thương địa phương, thay vì yêu cầu doanh nghiệp đăng ký lại từ đầu.
Hiệp hội cũng đề xuất trong thời gian chuyển đổi có thể tiếp nhận, phê duyệt hồ sơ thương nhân song song với hồ sơ xin cấp C/O hoặc áp dụng cơ chế "hồ sơ thương nhân tạm thời" để doanh nghiệp vẫn được nộp hồ xin C/O song song quá trình thẩm định.
Với các địa phương tập trung nhiều nhà máy như TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai... Lefaso kiến nghị bổ sung nhân sự, tăng cường tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật để đẩy nhanh tốc độ phê duyệt hồ sơ. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế ưu tiên xử lý nhanh đối với các lô hàng gấp, hàng xuất khẩu đi các thị trường xa như Mỹ, Chile và châu Âu.
Về lâu dài, Hiệp hội đề nghị tiếp tục tối ưu hóa tính năng trên Hệ thống eCoSys, giảm thao tác thủ công và hướng tới tự động hóa cấp C/O đối với các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt.
Lefaso cho rằng việc tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn trong cấp C/O là cần thiết để bảo đảm chuỗi cung ứng xuất khẩu hoạt động thông suốt, hạn chế chi phí phát sinh và duy trì niềm tin của khách hàng quốc tế đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Bình luận (0)