Đông Nam bộ cần liên kết vùng thực chất

Sỹ Đông
Sỹ Đông

Các tỉnh, thành phố trong vùng Đông Nam bộ có quy mô lớn hơn sau sáp nhập và các chuyên gia cho rằng cần có sự điều phối, phân vai trò của từng địa phương để tạo động lực mới.

Sau hơn 1 năm sáp nhập các địa phương, hiện vùng Đông Nam bộ còn 3 tỉnh, thành, gồm TP.HCM, TP.Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh, nhưng quy mô vùng lớn hơn trước do sáp nhập thêm Long An. Đây là khu vực đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế và nguồn thu ngân sách quốc gia với nhiều sân bay quốc tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng biển với thị trường gần 22 triệu dân, nhưng vẫn đối mặt với thách thức về quá tải hạ tầng, lệch pha kỹ năng lao động, áp lực dân số, biến đổi khí hậu, thiếu cơ chế điều phối hiệu quả thực chất.

TĂNG NĂNG SUẤT, GIẢM CHI PHÍ KẾT NỐI

Tại hội thảo "Cơ cấu kinh tế - xã hội của các tỉnh Đông Nam bộ sau sáp nhập: Thực trạng và định hướng phát triển", do Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ tổ chức ngày 24.9, các chuyên gia cho rằng khu vực này cần tái cấu trúc, phân vai và gắn kết chặt chẽ hơn.

PGS-TS Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ, cho biết Đông Nam bộ là một không gian kinh tế - xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng, hội tụ nhiều lợi thế về công nghiệp, thương mại, dịch vụ, logistics, khoa học - công nghệ, đô thị hóa, nguồn nhân lực và khả năng kết nối trong nước, quốc tế. Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính không chỉ đặt ra vấn đề về tổ chức bộ máy và quản trị địa phương, mà còn cả việc tái cấu trúc không gian phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội, phân bổ nguồn lực và tăng cường liên kết vùng.

Đông Nam bộ cần liên kết vùng thực chất - Ảnh 1.

PGS-TS Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ, phát biểu tại hội thảo

ẢNH: SỸ ĐÔNG

Những thay đổi về không gian hành chính tạo điều kiện mở rộng quy mô phát triển, kết nối nguồn lực, phát huy lợi thế bổ sung giữa các địa bàn. "Để những tiềm năng đó trở thành động lực tăng trưởng thực chất, cần có cách tiếp cận toàn diện, nhận diện đầy đủ về hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường lao động, an sinh xã hội, quản trị và phát triển bền vững", PGS-TS Vũ Tuấn Hưng nhận định.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Quang, Viện Chiến lược chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) nhìn nhận sáp nhập làm thay đổi phạm vi quản trị nhưng năng lực tăng trưởng chỉ xuất hiện khi các cấu phần của vùng vận hành gắn kết hơn. Cơ cấu kinh tế xã hội vùng như một hệ thống quan hệ giữa ngành, địa phương, lao động, đô thị, hạ tầng, dữ liệu và dịch vụ xã hội, thay đổi cơ cấu chỉ có ý nghĩa khi tăng năng suất, giảm chi phí kết nối và nâng chất lượng sống.

LIÊN KẾT CHUỖI GIÁ TRỊ

PGS-TS Lê Trung Đạo, Trường ĐH Tài chính - Marketing, nhận định nút thắt đầu tiên trong liên kết chuỗi giá trị liên vùng là khoảng cách lớn về năng lực logistics giữa TP.HCM và Đồng Nai. TP.HCM hiện đang giữ vai trò trung tâm phân phối chính của cả vùng với hệ thống cảng biển (Cát Lái, Tân Cảng), sân bay Tân Sơn Nhất và mạng lưới kho bãi hiện đại. Tuy nhiên, sự tập trung quá mức này tạo ra tắc nghẽn giao thông, chi phí logistics cao, và áp lực lên hạ tầng đô thị.

Nguyên nhân có thể do sân bay Long Thành chưa đi vào hoạt động, thiếu kết nối giao thông đường bộ và đường sắt giữa các khu công nghiệp với cảng biển và thiếu doanh nghiệp logistics chuyên nghiệp và công nghệ quản lý hiện đại. "Khoảng cách logistics này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng liên kết chuỗi giá trị. Nông sản từ Tây Ninh phải vận chuyển qua TP.HCM để tiếp cận thị trường xuất khẩu, làm tăng chi phí và thời gian", ông Đạo nói. Ngoài ra, vùng Đông Nam bộ còn đang đối mặt tình trạng thiếu tương đồng về kỹ năng lao động và bất bình đẳng thu nhập giữa các khâu trong chuỗi giá trị.

Đông Nam bộ cần liên kết vùng thực chất - Ảnh 3.

Mạng lưới đường sắt đô thị hoàn chỉnh sẽ giúp việc đi lại của người dân trong vùng Đông Nam bộ thuận lợi hơn

ẢNH: NHẬT THỊNH

Về giải pháp, ông Đạo đề xuất trong ngắn hạn cần thành lập Hội đồng điều phối tam giác kinh tế TP.HCM - Đồng Nai - Tây Ninh để đồng bộ quy hoạch và đầu tư hạ tầng kết nối, thu hẹp khoảng cách năng suất logistics. Trong trung hạn, khu vực này cần thành lập trung tâm đào tạo nghề liên vùng tại Đồng Nai để chuyển đổi nghề cho lao động nông nghiệp ở Tây Ninh, nâng cao kỹ năng gần 1 triệu lao động công nghiệp chế biến của Đồng Nai trước làn sóng tự động hóa, hỗ trợ tài chính toàn phần cho lao động phi chính thức. Về dài hạn, quy hoạch vùng nguyên liệu liên tỉnh khai thác đà tăng năng suất nông nghiệp Tây Ninh và kết nối bền vững với năng lực chế biến của Đồng Nai.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.