Những 'mốc tọa độ' ấn tượng
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu chịu tác động sâu sắc bởi những biến động địa chính trị và sự suy giảm đà phục hồi sau đại dịch, báo chí nước ngoài tiếp tục ghi nhận hàng loạt đánh giá tích cực và lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam.

FTSE Russell dự báo hàng tỉ USD sẽ vào thị trường chứng khoán Việt Nam
ẢNH: NHẬT THỊNH
Mới nhất, ngày 21.9, hãng tin Reuters (Anh) đưa tin cổ phiếu Việt Nam đã được thêm vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE Russell, đánh dấu cột mốc quan trọng sau nhiều năm cải cách nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Theo ước tính của FTSE Russell, sự kiện này có thể giúp Việt Nam thu hút tới
6 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài. Kỳ vọng nâng hạng đã giúp khôi phục sự quan tâm của khối ngoại, ghi nhận mức mua ròng 2.700 tỉ đồng (104 triệu USD) cổ phiếu trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM trong tuần giữa tháng 9. Cổ phiếu Việt Nam sẽ được đưa vào các bộ chỉ số qua 4 giai đoạn đến năm 2027: bắt đầu với tỷ trọng phân bổ 10% vào tháng 9, tiếp tục tăng thêm 20% vào tháng 3.2027, rồi tăng thêm 35% vào tháng 6 và 35% vào tháng 9.2027. Sau khi thị trường Việt Nam được nâng hạng, công ty quản lý tài sản Vanguard (Mỹ) có kế hoạch tăng đầu tư vào Việt Nam lên khoảng 2,5 tỉ USD trong vài năm tới.
Ở khía cạnh vĩ mô, trang Seasia Stats ngày 14.9 dẫn số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy giai đoạn 1994 - 2025 ghi nhận sự bứt phá của GDP khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam nổi lên là điểm sáng với mức tăng trưởng tỷ lệ phần trăm lớn nhất nhờ công nghiệp hóa và thu hút đầu tư. GDP của Việt Nam tăng từ 16,24 tỉ USD năm 1994 lên khoảng 514,7 tỉ USD năm 2025. Với sự bứt phá này, Hãng tin Bloomberg (Mỹ) và tờ The Business Times (Singapore) nhận định sự phân hóa tăng trưởng ngày càng nới rộng giữa
6 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á trong thập niên tới. Dự báo Việt Nam tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu khu vực với mức tăng trưởng cơ sở đạt 6,2% nhờ thu hút sự dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Mỹ và Trung Quốc.
Ba động lực cốt lõi giúp nền kinh tế Việt Nam gia tăng tốc độ bứt phá bao gồm: Đầu tiên là lợi thế trung tâm chuỗi cung ứng và hành động thể chế khẩn trương. Theo Bain & Company, DBS và Vriens & Partners, Việt Nam cùng Malaysia và Singapore được thiết lập để nắm bắt những lợi thế vượt trội từ các điều kiện toàn cầu thuận lợi nhờ vai trò trong chuỗi cung ứng sản xuất và trung gian dòng vốn. Trang Philstar nhấn mạnh khi Việt Nam quyết định một khoản đầu tư chiến lược, Chính phủ sẽ hành động khẩn trương, đưa ra tín hiệu rõ ràng về ưu tiên, ưu đãi, đất đai, cơ sở hạ tầng và thời gian thực hiện, đồng thời các cơ quan chính phủ phối hợp chặt chẽ. Đáng chú ý, khi thuế tối thiểu toàn cầu đe dọa giá trị ưu đãi thuế truyền thống, Việt Nam đã thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư để giúp các dự án công nghệ cao đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng, tài sản cố định và đào tạo nguồn nhân lực.
Động lực thứ hai đến từ việc nâng hạng thị trường tài chính và sức hút dòng vốn gián tiếp. Việc FTSE Russell chính thức thêm cổ phiếu Việt Nam vào chỉ số Thị trường mới nổi mở đường cho các quỹ chỉ số toàn cầu cơ cấu lại danh mục. Sự kiện này thúc đẩy sự quan tâm của các định chế tài chính quốc tế như Vanguard với kế hoạch rót 2,5 tỉ USD, tạo cú hích thanh khoản cho thị trường chứng khoán trong nước qua lộ trình 4 giai đoạn đến năm 2027.
Cùng với đó, sự phục hồi ngành sản xuất và tính thích ứng của lực lượng lao động là động lực cốt lõi thứ ba thúc đẩy kinh tế Việt Nam bứt tốc. Trang pmi.spglobal.com dẫn báo cáo PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 8 do S&P Global công bố đạt 53,3 điểm (tăng so với 52,9 điểm tháng 7), duy trì trên mốc 50 điểm tháng thứ 14 liên tiếp. Sản lượng sản xuất tăng nhanh nhất trong hơn hai năm qua (chuỗi tăng 16 tháng liên tục) và đơn hàng mới tăng mạnh nhất kể từ tháng 10. Báo cáo ghi nhận các nhà sản xuất tập trung tối ưu hóa hiệu suất vận hành thay vì mở rộng quy mô nhân sự trước những bất ổn địa chính trị toàn cầu.
Với tất cả những dữ liệu trên, giới phân tích vĩ mô quốc tế dự báo Việt Nam sẽ giữ vững vị thế dẫn đầu khu vực Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng cơ sở đạt khoảng 6,2%.
Loạt lợi thế cạnh tranh khác biệt
TS Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành tổ chức tư vấn Economica Việt Nam, nhận xét trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đầy biến động, những yếu tố nền tảng này đã tạo nên một sức bền và động lực bứt phá cho Việt Nam khi đặt trong tương quan so sánh với các quốc gia trong khu vực.

Việt Nam ghi nhận đơn hàng mới tăng mạnh nhất kể từ tháng 10.2025
ẢNH: NHẬT THỊNH
Bóc tách bộ ba lợi thế cạnh tranh cốt lõi, chuyên gia Lê Duy Bình nhấn mạnh yếu tố hàng đầu và mang tính quyết định chính là sự thống nhất, quyết tâm chính trị mạnh mẽ xuyên suốt từ cấp cao nhất xuống đến năng lực điều hành của Chính phủ và các bộ, ngành. Định hướng chiến lược rõ ràng trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng và huy động toàn bộ nguồn lực xã hội đã tạo tiền đề cho một làn sóng cải cách thể chế sâu rộng.
"Lợi thế lớn nhất là Việt Nam đã có một quyết tâm rất lớn, kể cả về mặt chính trị lẫn điều chỉnh mô hình tăng trưởng, cũng như huy động nguồn lực của toàn bộ xã hội để phục vụ cho mục tiêu này. Từ đó làm cơ sở để chúng ta có rất nhiều cải cách trong thời gian vừa qua: cải cách về mặt quy định pháp luật, cải cách về phương thức điều hành, cải cách để hoàn thiện thể chế. Đây chính là nền tảng quan trọng để huy động và khai phóng các nguồn lực cho quá trình tăng trưởng", ông Lê Duy Bình phân tích.
Bên cạnh đòn bẩy thể chế, Việt Nam đã định vị thành công một tọa độ địa chính trị và chiến lược ngoại giao kinh tế rất đặc biệt. Việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Anh, Pháp... đã biến Việt Nam thành một "bến đỗ an toàn" và tin cậy cho các tập đoàn đa quốc gia. Tọa độ ngoại giao này càng trở nên đắt giá khi kết hợp với sự bứt phá về hạ tầng kỹ thuật. Mạng lưới giao thông vận tải và logistics được đầu tư đồng bộ với hàng loạt dự án cao tốc, cảng biển nước sâu và sân bay quốc tế chuẩn bị đưa vào khai thác, giúp tối ưu hóa khả năng kết nối giữa các vùng sản xuất với thị trường toàn cầu và giảm thiểu chi phí logistics cho doanh nghiệp. Đồng thời, lợi thế từ 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết tiếp tục là cánh cửa mở rộng giúp hàng hóa sản xuất tại Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế với mức thuế suất ưu đãi vượt trội.
Đặc biệt, nguồn nhân lực tiếp tục là một trụ cột cạnh tranh khác biệt của Việt Nam. Dù lợi thế dân số vàng đang dần khép lại theo thời gian, ở giai đoạn hiện tại, Việt Nam vẫn sở hữu lực lượng lao động trẻ, dồi dào và quan trọng hơn hết là có tư duy công nghệ sắc bén. Khả năng tiếp thu, chủ động chuyển đổi công nghệ cực nhanh của người lao động Việt Nam - đặc biệt trong các lĩnh vực STEM, công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) - chính là mắt xích chất lượng giúp Việt Nam tự tin đáp ứng những yêu cầu khắt khe từ các tập đoàn công nghệ toàn cầu.
Đánh giá sâu hơn về sự kiện thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được FTSE Russell thêm vào chỉ số Thị trường mới nổi, ông Lê Duy Bình nhìn nhận đây là cú hích có tính chất chất xúc tác toàn diện cho toàn bộ nền kinh tế. Việc nâng hạng bắt buộc hệ thống pháp luật và các quy định quản lý dòng vốn của Việt Nam phải tiếp tục hoàn thiện theo các tiêu chuẩn quốc tế minh bạch hơn.
Quan trọng hơn, sự kiện này đánh dấu bước chuyển về "chất" của dòng tiền ngoại: nếu như ở thị trường cận biên, dòng vốn ngắn hạn mang tính đầu cơ cao và "dễ đến dễ đi", thì khi bước lên Thị trường mới nổi, Việt Nam sẽ thu hút được các quỹ đầu tư định chế lớn với tầm nhìn dài hạn, quy mô vốn bền vững và chất lượng cao hơn hẳn. Dòng vốn này không chỉ gia tăng thanh khoản mà còn đổ mạnh vào các doanh nghiệp đầu ngành, các cổ phiếu trụ cột thuộc lĩnh vực ngân hàng, bất động sản, công nghệ... qua đó nâng tầm quy mô và vị thế của thị trường tài chính Việt Nam.
Đồng thời, sự kiện nâng hạng thị trường vốn còn tạo ra ba hiệu ứng lan tỏa chiến lược đối với cấu trúc kinh tế vĩ mô. Thứ nhất, nó đóng vai trò là đòn bẩy thúc đẩy làn sóng IPO, thoái vốn và tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước diễn ra nhanh chóng, hiệu quả hơn, từ đó nâng cao năng suất chung của khu vực kinh tế công. Thứ hai, một thị trường vốn phát triển sâu rộng sẽ làm bệ đỡ vững chắc, giúp san sẻ gánh nặng cung ứng vốn dài hạn với hệ thống ngân hàng thương mại. Nền kinh tế sẽ giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào vốn tín dụng ngân hàng để tăng trưởng, đồng thời nâng cao sức khỏe cho các doanh nghiệp nội địa. Thứ ba, sự ổn định của dòng vốn đầu tư gián tiếp chất lượng cao sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, củng cố cán cân thanh toán và gia tăng sức hút đối với cả dòng vốn đầu tư trực tiếp.
"Sự kết hợp giữa nỗ lực cải cách thể chế, đà phát triển hạ tầng và quy mô thị trường nội địa hơn 100 triệu dân với tầng lớp trung lưu tăng nhanh chính là lợi thế của Việt Nam", chuyên gia Lê Duy Bình khẳng định.
Sự khác biệt về tốc độ cải cách thể chế, sự bứt phá về cơ sở hạ tầng và năng lực nguồn nhân lực chính là công thức giúp Việt Nam tạo ra sự khác biệt rõ nét. Đây là những yếu tố quyết định giúp chúng ta tự tin khẳng định vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu và duy trì sức cạnh tranh mạnh mẽ so với các quốc gia khác trong khu vực.
TS Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành tổ chức tư vấn Economica Việt Nam
Tăng trưởng chuyển sâu từ lượng sang chất
Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM) lại đặc biệt chú ý tới sức bật nội tại từ hiệu suất sản xuất và năng lực nhân lực của Việt Nam. Chỉ số "Nhà quản trị mua hàng ngành chế biến - chế tạo" của Việt Nam đạt 53,3 điểm vào tháng 8, đánh dấu tháng thứ 14 liên tiếp nằm trên ngưỡng 50 điểm. Điều tạo nên sự khác biệt trong chu kỳ phục hồi này là tư duy của doanh nghiệp: thay vì phình to quy mô lao động một cách cơ học trước những biến động địa chính trị, các nhà sản xuất đã tập trung tối ưu hóa hiệu suất vận hành và đẩy mạnh phát triển sản phẩm mới.

Người lao động Việt Nam thể hiện tính thích ứng với công nghệ cao
ẢNH: Phạm Hùng
Song song, báo cáo từ Reeracoen và Rakuten Insight tại 6 quốc gia ASEAN chỉ ra rằng, Việt Nam dẫn đầu khu vực về tỷ lệ doanh nghiệp ghi nhận doanh thu cải thiện (46%) và nhu cầu mở rộng tuyển dụng (16%). Đặc biệt, người lao động Việt Nam thể hiện tính thích ứng công nghệ vượt trội khi AI và tự động hóa trở thành động lực hàng đầu (39%) thúc đẩy họ chuyển đổi nghề nghiệp và nâng cao năng suất, vượt qua cả yếu tố tăng thu nhập đơn thuần.
Ông Trần Anh Tùng nhận xét những chỉ số trên cho thấy khu vực sản xuất đang bước từ phục hồi mang tính thời điểm sang một chu kỳ mở rộng tương đối rõ hơn. "Nếu trước đây tăng 10% sản lượng thường phải tăng tương ứng lao động, thì AI, tự động hóa và quản trị số đang giúp doanh nghiệp tạo thêm sản lượng trên cùng một lượng nhân công. Nói cách khác, tăng trưởng bắt đầu chuyển từ "thêm người, thêm vốn" sang "tăng năng suất", ông Trần Anh Tùng chỉ rõ.
Cũng theo ông Tùng, con số 46% doanh nghiệp cải thiện doanh thu, 16% mở rộng tuyển dụng và 48% người tiêu dùng lạc quan về triển vọng kinh tế đáng chú ý vì chúng phản ánh đồng thời cả phía cung và phía cầu.
"Khi đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục đưa vốn, công nghệ và chuỗi cung ứng vào Việt Nam trong lúc hơn 100 triệu người tiêu dùng ngày càng có sức mua, quy mô thị trường đủ lớn sẽ làm thay đổi bài toán đầu tư. Một tập đoàn xây nhà máy bán dẫn, điện tử hay ô tô không còn chỉ nhìn Việt Nam như một cứ điểm xuất khẩu mà còn nhìn thấy thị trường tiêu thụ ngay bên cạnh nhà máy. Điều đó làm tăng khả năng các tập đoàn đặt thêm mảng nghiên cứu - phát triển (R&D), logistics, trung tâm dữ liệu và mạng lưới nhà cung ứng tại Việt Nam. Vì vậy, lợi thế lớn nhất của Việt Nam giai đoạn tới không chỉ là FDI hay 100 triệu dân khi đứng riêng lẻ, mà là khả năng kết hợp vốn quốc tế cùng năng lực sản xuất và thị trường nội địa. Nếu ba yếu tố này kết nối được với doanh nghiệp Việt, Việt Nam có cơ hội chuyển từ một công xưởng xuất khẩu thành một nền kinh tế sản xuất - tiêu dùng - công nghệ có quy mô lớn trong ASEAN", chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng nhận định.
Khi doanh nghiệp nhìn thấy doanh thu tốt hơn, họ mới tuyển thêm lao động; khi người tiêu dùng kỳ vọng thu nhập và kinh tế tốt hơn, họ có xu hướng tăng chi tiêu. Hai quá trình này có thể tạo thành một vòng phản hồi tích cực cho tăng trưởng. Đặc biệt, 39% người lao động Việt Nam xem AI và tự động hóa là yếu tố thúc đẩy thay đổi nghề nghiệp, cao hơn cả tăng thu nhập và cân bằng cuộc sống, cùng ở mức 37%. Điều đó cho thấy AI tại Việt Nam đang bắt đầu chuyển từ một câu chuyện công nghệ thành câu chuyện của thị trường lao động.
Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM)











Bình luận (0)