Đất Lạng Sơn có tiếng là xứ núi non với nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên đã đi vào thi ca của các tao nhân mặc khách hoặc nhàn du ghé thăm, hoặc có duyên với đất này mà đưa bước chân thăm thú.
"Núi trước nàng Tô dãi nắng mưa"
Khi làm quan trấn trị ở đất Lạng Sơn, Ngô Thời Sĩ (1726 - 1780) ngoài thời gian nơi công đường, đã thỏa chí tiêu dao khắp núi non xứ Lạng. Ở những nơi danh lam thắng cảnh ông đến, cảnh đẹp khiến thi hứng thêm nồng, nhiều bài thơ đã được viết, hoặc khắc vào vách đá lưu lại cho đời sau. Trong đó bia Tam Thanh có bài: "Thong thả cưỡi lừa chơi động xưa/Dùng dằng bên động cảnh càng ưa/Suối trong cuội đá, dường reo gọi/Núi trước nàng Tô dãi nắng mưa". Nàng Tô ở đây là tượng nàng Tô Thị trên núi Vọng Phu, được Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm đề cập trong Lạng Sơn đoàn thành đồ biên soạn năm Mậu Dần (1758), liên quan đến phố Nhị Thanh, có đoạn "[Đi] 307 tầm 2 thước, phía tây đường có một ngọn núi đá, trên núi bỗng nổi lên một hòn đá nhỏ, xem tựa hình người. Tương truyền, xưa có Tô Thị nhớ chồng mà lên núi, ngóng vọng không về, sau bèn hóa đá". Lê Quý Đôn trên đường đi sứ phương Bắc, nghỉ chân ở thành Lạng, cũng đã động lòng mà làm bài Vọng Phu sơn, tâm sự với hòn đá ấy mà như thổi hồn vào tượng nàng Tô Thị: "Tay áo đờ buông trong gió bấc/Tóc thơm ngại rõ trước dòng lan".

Bài Chơi Lạng Sơn Cao Bằng (Nam Phong tạp chí số 96, tháng 6.1925) thông tin về tượng nàng Tô Thị
ẢNH: TƯ LIỆU
"Tô Thị là một ngọn núi trong đám núi Tam Thanh này, nghe đâu như hình người đàn bà đứng chon von giữa trời, nên còn nhất danh là núi Vọng Phu, nhưng nay sét đánh đổ mất rồi", Phạm Quỳnh đã ghi nhận như thế trong du ký Chơi Lạng Sơn Cao Bằng (Nam Phong tạp chí số 96, tháng 6.1925). Theo thông tin báo chí hiện nay, phần đầu tượng nàng Tô Thị bị sét đánh gãy hồi thập niên 1950 rồi được gắn lại; sau này, tượng đổ sụp năm 1991, phục chế lại như ngày nay. Nhưng rõ là từ thời điểm 1925, Phạm Quỳnh đã ghi nhận tượng bị sét đánh đổ chứ chẳng phải sau này như dư luận thông tin.
Nói tới Vọng Phu của Lạng Sơn, lại nhớ tới những hòn Vọng Phu khác trên nhiều tỉnh, thành trong cả nước được ghi nhận, như ở Bình Định, khi du lịch bằng xe lửa Sài Gòn - Hạ Long và ghi lại trong Hải Long du ký (1941), Trần Hữu Tư qua Bình Định đã thấy nơi mé biển "hình bà Vọng Phu bằng đá, ngồi trên núi cao mà chúng ta thường nghe nói tới"… "một xứ đã có cái lịch sử rất vẽ [vẻ] vang, đã sản xuất nhiều tay kỳ sĩ, lại có được người đàn bà thủ tiết đến hóa đá".
"Vung tay toan cắp núi Thanh chơi"
Ca dao xưa truyền khẩu về xứ Lạng có câu "Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh". Từ thời trung đại, phố Kỳ Lừa đã sầm uất lắm. Vẫn lời Nguyễn Nghiễm trong Lạng Sơn đoàn thành đồ: "Phố xá nối đuôi nhau, thổ dân [dân bản địa] và khách trọ ở lẫn, phố có chợ, mỗi tháng họp chợ 6 phiên, buôn bán thương mại, hàng hóa các vật".
Khi lên đây, Phạm Quỳnh ghi nhận chợ phiên Kỳ Lừa nhộn nhịp các sắc dân tụ họp buôn bán. Dù khi đến chợ đã vãn, nhưng vẫn còn đông người ăn uống, chơi bài. Mà chợ phiên này bán thì ít, gặp gỡ giao lưu là chính: "Ngày phiên, người các châu xa đến mấy ngày đường đem được ít thổ sản ra bán, sập sã [vội vàng] một lát buổi sáng, rồi bán được đồng nào ăn quà bánh, uống rượu chè, vào sòng bạc, no say sạch túi rồi mới trở về, đợi phiên khác lại đi".

Thạch nhũ trong động Tam Thanh
ẢNH: CHU MINH/BÁO LẠNG SƠN
Đến Lạng Sơn, Á Nam Trần Tuấn Khải ngắm mây trời, nước non thu vào tầm mắt, những cảnh sắc ấy đã nhuốm màu tâm trạng của một tâm hồn thi sĩ đa cảm, nặng tình với nước non. Bởi thế mới có những dòng sau đây trong Độc ẩm Lạng Sơn thành: "Phất phơ trước phố mường từng lũ/Ngất ngưởng bên mâm khách một người/Mờ mắt tưởng xua quân Mạc chạy/Vung tay toan cắp núi Thanh chơi". Khi thăm động Tam Thanh, lòng Á Nam còn luống những ưu tư: "Hưng vong hoa chán cười anh Mạc/Tang hải xuân buồn khóc chị Tô" (bài Đề động Tam Thanh). Động này cũng được Cao Xuân Dục đề cập trong Viêm giao trưng cổ ký, theo đó, động thuộc núi Tam Thanh, trong động có chùa, nhũ đá rũ xuống tự nhiên, lại có cả thơ Ngô Thời Sĩ khắc vào vách đá.
Kế Tam Thanh có động Nhị Thanh cũng hàng danh thắng do Ngô Thời Sĩ tìm ra, ngoài động là hồ nhỏ. Cảnh động u tịch, "đường đi đã sửa sang, có chỗ bắc ván làm cầu, dưới chân suối nước chảy róc rách, trên đầu thạch nhũ rủ rườm rà, hai bên những hình đá kỳ quái, nào là rồng rắn, nào là thuồng luồng…", Phạm Quỳnh đã thực mục sở thị mà thuật lại như thế. Lòng động rộng, có khe đá cho ánh sáng chiếu vào, tiếng người phát ra là âm vang khắp động. Quanh động là núi đá la liệt, như nơi thâm sơn cùng cốc vậy. (còn tiếp)
Bình luận (0)