Ký ức vàng son và giai thoại Cửu đỉnh
Trong gian xưởng đã nhuốm màu thời gian, ông Nguyễn Hữu Hướng (62 tuổi) đang cẩn thận đánh bóng những chiếc đỉnh vừa ra lò. Đôi bàn tay chai sần lướt chậm trên lớp đồng ánh lên sắc vàng sẫm. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, ông Hướng như một cuốn sử sống của làng, lưu giữ cả niềm tự hào lẫn những thăng trầm của Bằng Châu.

Những bộ khuôn đúc bằng đất được làm hoàn toàn từ kinh nghiệm và đôi tay tài hoa của người thợ
ẢNH: ĐỨC NHẬT
Theo lời kể của ông Hướng, nghề đúc đồng ở Bằng Châu được tổ tiên gốc Nam Định mang vào trong hành trình xuôi phương Nam lập nghiệp. Từ đó, tiếng búa tiếng đe nối dài qua nhiều thế hệ. Bản thân ông cũng bước vào nghề từ năm 12 tuổi, lớn lên cùng những đêm thức trắng canh lò cùng mùi khói than ám trên áo quần. Nhắc đến thời hoàng kim của làng nghề, ông Hướng nhớ lại: "Hồi trước cả làng đỏ lửa suốt ngày đêm, nhà nào cũng làm nghề. Thu nhập từ đúc đồng khá hơn nhiều nghề khác, nhiều gia đình dựng được nhà cửa, mua thêm ruộng đất, nuôi con ăn học".
Nhọc nhằn giữ "bí kíp" trăm năm
Đằng sau những bộ lư đồng sáng bóng hay tiếng chuông ngân vang là chuỗi công việc nặng nhọc kéo dài hàng tháng trời. Trong khoảng sân nhỏ chất đầy đất ruộng, rơm rạ và khuôn đúc, ông Nguyễn Thái Thuận (67 tuổi) đang lom khom chỉnh sửa từng chi tiết trên bộ khuôn đất truyền thống. Ông cho biết làm khuôn là công đoạn tốn nhiều công sức nhất trong nghề đúc đồng cổ truyền.
Đất phải lấy từ ruộng sâu rồi mang về ngâm nước, lọc qua nhiều lớp rây để lấy phần mịn nhất làm lõi khuôn. Lớp ngoài tiếp tục được trộn với rơm rạ nhằm tăng độ kết dính và khả năng chịu nhiệt. "Làm khuôn cực lắm. Mỗi ngày tôi chỉ làm được tối đa hai khuôn", ông nói.

Ông Thuận chỉnh sửa lại bộ khuôn đúc, chuẩn bị cho một mẻ đồng mới
ẢNH: ĐỨC NHẬT
Để hoàn thành một mẻ đúc khoảng 300 chiếc đỉnh nhỏ, riêng khâu chuẩn bị khuôn đã kéo dài đến nửa năm. Trước ngày đổ đồng, khuôn tiếp tục được nung xuyên đêm đến tận trưa hôm sau. Khi khuôn đủ độ chín, người thợ lại vá nứt, chỉnh sửa rồi ráp kín trước lúc rót dòng đồng nóng chảy vào. Công việc diễn ra giữa sức nóng hầm hập của lò nung. Người thợ phải đứng sát ngọn lửa nhiều giờ liền, hơi nóng phả rát mặt, lông tay lông chân cháy sém. Sau mỗi mẻ đúc lại là những ngày dài đục, mài, đánh bóng. "Nghề này nóng và độc hại lắm. Ngồi đục, mài cả đời nên lưng ai cũng còng xuống", ông Thuận vừa nói vừa chống tay đứng dậy sau nhiều giờ ngồi bên khuôn đất.
Điều khiến ông trăn trở không hẳn nằm ở sự nhọc nhằn. Một sản phẩm đồng thủ công phải gánh đủ chi phí từ nguyên liệu, dầu đốt lò, đất cát, rơm rạ đến hàng tháng công lao động. Trong khi đó, sản phẩm đúc công nghiệp với mẫu mã đa dạng và giá thành thấp hơn đang xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường. Đồ đồng thủ công của Bằng Châu vì thế dần mất lợi thế cạnh tranh.
Người trẻ tìm lối đi khác
Sự mai một của làng nghề cũng kéo theo khoảng trống thế hệ. Con cháu trong làng giờ ít người muốn nối nghiệp cha ông. Như gia đình ông Hướng, 4 người con gái đều học hành thành đạt rồi chọn công việc khác nơi phố thị. Những ngày giỗ tổ nghề 17.3 âm lịch từng là dịp náo nhiệt nhất trong năm cũng dần đổi khác. Trước đây, cả làng mổ heo cúng tế, thuê hát bội diễn nhiều đêm liền. Giờ đây, lễ giỗ nghề chủ yếu được tổ chức lặng lẽ trong từng gia đình.
Trong căn xưởng nằm sát nhà ông Thuận, người thợ già tên Chín (69 tuổi) đang mài nốt những phôi đồng còn sót lại. Gần 40 năm gắn bó với lò đúc, ông từng trở về từ chiến trường rồi dành gần trọn cuộc đời bên những mẻ đồng đỏ lửa. Nhưng các con đều rời quê đi làm ăn xa, không ai muốn tiếp tục nghề cũ. Một mình trong gian xưởng rộng, ông chỉ còn cố hoàn thành nốt mẻ đúc cuối cùng. "Năm rồi tôi nghỉ hẳn vì càng làm càng lỗ. Đầu năm nay cố đỏ lửa thêm một mẻ cuối cùng, nhưng chắc xong đợt này là nghỉ luôn", ông thở dài.

Ông Hướng dành hơn nửa cuộc đời gắn bó với lò đúc đồng
ẢNH: ĐỨC NHẬT
Nhưng giữa lúc nghề đúc đồng truyền thống dần hụt hơi, những người còn bám trụ với lò lửa cũng tìm cách thích nghi để tồn tại. Anh Nguyễn Đức An (36 tuổi), con trai ông Thuận, là một trong số ít người trẻ còn gắn bó với xưởng gia đình. Tuy nhiên, anh không đi theo con đường đúc đồng truyền thống của cha ông. Khoảng 2 năm nay, anh chuyển sang đúc nhôm công nghiệp để sản xuất các loại khớp nối ống tưới phục vụ nông nghiệp.
Theo anh An, nhôm dễ nấu hơn, thời gian nóng chảy nhanh và đầu ra cũng ổn định hơn nhờ phù hợp nhu cầu sản xuất nông nghiệp ở Tây nguyên. "Làm bằng máy móc đỡ cực hơn và còn nuôi được gia đình", anh nói. Xưởng của anh An vẫn đỏ lửa mỗi ngày, nhưng thay vì đúc đồng thủ công như trước, gia đình chuyển sang đúc nhôm phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Ông Trần Anh Tấn, Trưởng phòng Kinh tế hạ tầng P.An Nhơn, cho biết khu vực Đập Đá (thuộc TX.An Nhơn trước đây) từng có nhiều làng nghề truyền thống như rèn, đúc đồng, làm nhang. Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, nhiều năm trước địa phương đã quy hoạch cụm công nghiệp và vận động các hộ chuyển vào sản xuất tập trung.
Ông Tấn cũng nhìn nhận rằng khi các hộ sản xuất chuyển vào khu công nghiệp, tính chất của một làng nghề thực sự sẽ không còn nguyên vẹn. "Để được công nhận là làng nghề theo đúng tiêu chí thì tỷ lệ số hộ dân tham gia làm nghề phải đạt trên 20% tổng số hộ trong khu vực. Hiện làng Bằng Châu chỉ còn khoảng 3 - 4 hộ duy trì hoạt động. Với số lượng ít như hiện nay thì không thể đáp ứng tiêu chuẩn này", ông Tấn nói.
Làng đúc đồng Bằng Châu khó trở lại thời kỳ rực rỡ như trước. Nhưng với những người thợ còn ở lại, mỗi lò lửa còn đỏ không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là cách họ giữ một nghề từng gắn bó với nhiều thế hệ.
Bình luận (0)