Cao tốc, metro mở lối
Với mục tiêu chiến lược tăng trưởng liên tục hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đầu tư hạ tầng quy mô lớn và tốc độ nhanh chưa từng có.
Cuối tháng 6, dự án đầu tư hoàn chỉnh cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên - Chợ Mới dài 100 km, với tổng mức đầu tư hơn 21.000 tỉ đồng đã chính thức được khởi công - chỉ 5 tháng sau khi UBND tỉnh Thái Nguyên giao nhiệm vụ chuẩn bị cho nhà đầu tư.
Theo ông Trịnh Xuân Trường - Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, dự án có vai trò đặc biệt quan trọng, là tuyến giao thông huyết mạch, phá thế độc đạo của QL3, mở ra không gian phát triển mới của Thái Nguyên và khu vực. "Thực tiễn chứng minh nơi nào hạ tầng phát triển, nơi đó sẽ hình thành các cực tăng trưởng mới, thúc đẩy logistic, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp", ông Trường nhấn mạnh.


Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045 trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển
Ảnh: Việt Hùng
Dự án sẽ kết nối và từng bước hoàn thiện hành lang Hà Nội - Thái Nguyên - Cao Bằng, mở cơ hội phát triển cho trục kinh tế trung du và miền núi phía bắc. Trong đó, Thái Nguyên nổi lên với vai trò mắt xích quan trọng khi là địa phương đứng đầu cả nước về thu hút FDI hiện nay. Chỉ 6 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đổ về các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh cán mốc 8 tỉ USD, tập trung vào các dự án công nghệ cao. Từ một tỉnh trung du, thay đổi tư duy và đầu tư hạ tầng bài bản đã giúp Thái Nguyên từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trở thành điểm sáng thu hút đầu tư công nghiệp công nghệ cao của đất nước. Minh chứng là "ông lớn" Hàn Quốc Samsung đã chọn Thái Nguyên như một cứ điểm sản xuất lớn nhất tập đoàn này tại Việt Nam.
Hết năm 2025, cả nước đã cán đích vượt mốc kỳ vọng mục tiêu hơn 3.000 km cao tốc, nối thông từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau. Khát vọng cao tốc tiếp tục được nối dài khi quy hoạch mạng lưới cao tốc tầm nhìn 2050 được Bộ Xây dựng phê duyệt, đặt mục tiêu tổng chiều dài cao tốc cả nước sẽ lên tới 10.100 km với 46 tuyến, hệ thống quốc lộ gồm 136 tuyến với chiều dài 26.340 km.
Xắn tay vào việc, quyết liệt từ thủ tục đầu tư, triển khai giải phóng mặt bằng, chuẩn bị thi công… là bức tranh tích cực đang hiện diện trên đại công trường hàng loạt dự án lớn khắp Hà Nội, TP.HCM cho đến các tỉnh miền núi, trung du như Thái Nguyên… Hơn 20 năm làm việc trong lĩnh vực giao thông, TS Phan Lê Bình, Trưởng văn phòng đại diện Công ty tư vấn OCG (Nhật Bản), chưa bao giờ hình dung các dự án vành đai có thể giải phóng mặt bằng và triển khai thi công với tốc độ nhanh như hiện nay. Hà Nội đang triển khai thần tốc hàng loạt dự án vành đai và các tuyến đường sắt đô thị (metro) với những thay đổi mang tính đột phá trong giải phóng mặt bằng và tổ chức thi công, đặc biệt là các dự án Vành đai 1 và Vành đai 2,5…

Đường sắt đang lột xác chuyển mình
Ảnh: Việt Hùng
Trong khoảng 20 năm, Hà Nội mới xây dựng được gần 20 km đường sắt đô thị, nhưng chỉ khoảng 2 năm gần đây, thành phố đã khởi công 7 tuyến metro, với quyết tâm khép kín mạng lưới metro thủ đô. Trong đó, 5 dự án metro quy mô lên tới 1,3 triệu tỉ đồng khởi động cuối tháng 6. Đặc biệt, mạng lưới metro thủ đô không đơn thuần thiết lập lại hệ thống giao thông công cộng, mà còn là động lực kiến tạo mô hình phát triển đô thị mới (TOD) theo mô hình đa cực, đa trung tâm.
Đầu tháng 7 vừa qua, TP.HCM cũng đồng loạt khởi công 8 dự án với quy mô 9,6 tỉ USD, trải rộng trên khắp lĩnh vực từ hạ tầng giao thông, cảng biển, logistics đến không gian văn hóa ven sông, tạo động lực phát triển mới cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Tại lễ khởi công, lãnh đạo UBND thành phố cũng đã khẳng định 8 dự án này sẽ là những mắt xích chiến lược trong tổng thể phát triển hạ tầng. Trong đó, những dự án hạ tầng lớn như cao tốc Hồ Tràm - Long Thành, đường vượt biển Cần Giờ - Vũng Tàu… không chỉ góp phần giải quyết các điểm nghẽn giao thông, mở rộng không gian phát triển về phía biển, tăng cường liên kết vùng với khu vực kinh tế trọng điểm phía nam và Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Cao tốc TP.HCM - Mộc Bài sẽ hình thành trục kết nối chiến lược theo hướng Tây Bắc, tăng cường kết nối với các nước ASEAN qua đường bộ…
Tăng tốc nhờ sân bay, đường sắt
Được đưa vào vận hành từ tháng 5.2025 đến nay, đoàn tàu chất lượng cao foodtour Hoa phượng đỏ nối Hải Phòng - Hà Nội đã chạy được gần 3.000 chuyến, phục vụ khoảng 1,33 triệu lượt hành khách.
Theo ông Trần Văn Hạnh - Giám đốc Chi nhánh Vận tải đường sắt Hải Phòng, mỗi ngày 4 đôi tàu Hoa phượng đỏ chạy thường xuyên giữa hai thành phố với lượng khách dao động từ 2.500 - 3.000 người. Những dịp cuối tuần, lượng khách kín chỗ lên tới 5.500 - 6.000 khách/ngày, thường xuyên phải tăng thêm tàu để đáp ứng nhu cầu.
Từng bị xem là ngành hiệu quả thấp, kém đổi mới sáng tạo, nhưng chỉ vài năm trở lại đây, đường sắt đang "lột xác" từng ngày. Khách tìm đến tàu nhiều hơn, doanh thu tăng lên đi cùng chất lượng được cải thiện. "Cú bắt tay" thành công giữa ngành đường sắt và Hải Phòng không chỉ kích hoạt du lịch thành phố cảng, mà mở thêm hướng phát triển tàu hỏa du lịch. Tàu "hành trình kết nối di sản miền Trung" giữa Huế - Đà Nẵng được đưa vào khai thác từ tháng 3 năm nay cũng đã tạo dấu ấn, thu hút lượng du khách quốc tế rất lớn. Dự kiến đầu tháng 9, đường sắt tiếp tục nghiên cứu mở tuyến di sản Huế - Đồng Hới dài khoảng 190 km, đưa hành khách trải nghiệm nhiều điểm đến nổi tiếng như Cố đô Huế, thành cổ Quảng Trị, Phong Nha - Kẻ Bàng…

Các tuyến metro Hà Nội đang được quy hoạch khép kín
Ảnh: Tuấn Minh
Trả lời Thanh Niên, ông Đặng Sỹ Mạnh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, cho biết cùng với nỗ lực nâng cao chất lượng, đường sắt đang hướng vào những ngách đi riêng như du lịch tàu hỏa, kết nối các miền di sản cho đến các chuyến tàu liên vận quốc tế, kết nối với Trung Quốc và quá cảnh đi nước thứ 3. Những ngày cuối tháng 7, Công ty CP Vận tải đường sắt đã ký biên bản ghi nhớ với một doanh nghiệp đường sắt Trung Quốc nhằm phát triển tuyến đường sắt quốc tế kết nối giữa Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc với Việt Nam. Hàng hóa các nhà máy sản xuất sẽ được kết nối trực tiếp từ các ga Kép (Bắc Ninh), Yên Viên (Hà Nội) và Sóng Thần (TP.HCM). So với phương thức vận tải đường bộ kết hợp đường biển qua cảng Thiên Tân hay Thanh Đảo trước đây mất hơn 20 ngày, tuyến tàu chuyên tuyến này sẽ rút ngắn đáng kể thời gian vận chuyển xuống chỉ còn 5 - 7 ngày, giảm đáng kể chi phí logistic cho doanh nghiệp.
Quy hoạch mạng lưới đường sắt đến năm 2030 tầm nhìn 2050 được Bộ Xây dựng phê duyệt đã bổ sung nhiều tuyến đường sắt quốc gia và liên vận; ưu tiên phát triển các hành lang vận tải hàng hóa quy mô lớn, tạo điều kiện hình thành các mạng lưới logistics đa phương thức. Các tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hay Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái, Mỹ Thủy - Lao Bảo sẽ kết nối cảng biển, cửa khẩu với các vùng kinh tế trọng điểm. Khi mạng lưới được hoàn thiện dần trong tương lai, đường sắt được kỳ vọng trở lại với thời kỳ hoàng kim về vận tải hàng hóa, chia sẻ áp lực cho đường bộ, cũng như mở ra không gian phát triển cho các hành lang kinh tế mới.
Bên cạnh đường sắt, những điều chỉnh trong tư duy phát triển mạng lưới sân bay cũng đang được đặt ra đáp ứng yêu cầu tăng trưởng mới của nền kinh tế. Theo thông tin từ Cục Hàng không Việt Nam, tổng công suất thiết kế toàn hệ thống đến năm 2030 dự kiến đạt khoảng 262,1 triệu hành khách/năm. Đến năm 2050, quy hoạch hướng tới hình thành 2 trung tâm vận tải hàng không đầu mối và trung chuyển quốc tế mang tầm khu vực tại vùng thủ đô Hà Nội và vùng TP.HCM; từng bước đưa vào khai thác các cảng hàng không mới, phấn đấu khoảng 97% dân số có thể tiếp cận cảng hàng không trong phạm vi 100 km. Từ số lượng 22 sân bay dân sự đang khai thác hiện nay, quy hoạch tới năm 2030 sẽ mở rộng mạng lưới lên 33 sân bay và 36 sân bay vào năm 2050. Bên cạnh những "siêu sân bay" đang được xây dựng và hoàn thiện như sân bay quốc tế Long Thành và Gia Bình, sẽ bổ sung loạt sân bay Măng Đen, Vân Phong, Ninh Bình…
Đáng chú ý, hệ thống cảng hàng không không chỉ được quy hoạch với tư duy vận tải đơn thuần, mà còn hướng tới hình thành hệ sinh thái kinh tế hàng không đồng bộ, với các trung tâm logistics hàng không, cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay (MRO), các khu đô thị sân bay (airport city)..., tạo động lực tăng trưởng mới cho địa phương và các vùng kinh tế.
Giàu mạnh từ biển
Sau hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XIV, T.Ư đã thông qua nghị quyết xác định tầm nhìn đến năm 2045 Việt Nam là quốc gia biển mạnh, giàu từ biển. Trước mắt đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước; hình thành 5 - 6 trung tâm kinh tế biển mạnh, 3 khu kinh tế đặc biệt cũng như hình thành các tập đoàn kinh tế biển quy mô lớn… Trưởng ban Chính sách, chiến lược T.Ư Nguyễn Thanh Nghị khẳng định nghị quyết thể hiện tầm nhìn chiến lược với những tư duy mới và đột phá về biển. Xuyên suốt trong đó là tư duy chuyển mạnh từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Với bờ biển dọc bắc nam dài hơn 3.260 km, Việt Nam có những lợi thế rất lớn của một quốc gia "hướng ra biển" với tiềm năng từ cảng biển, vận tải biển, du lịch biển, tài nguyên dầu khí, năng lượng tái tạo, thủy hải sản… Hệ thống cảng biển cả nước hiện nay có 34 cảng biển với 320 bến, sản lượng hàng hóa thông qua cảng năm 2025 đạt hơn 960 triệu tấn, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực.
Theo báo cáo về Chỉ số hiệu suất cảng container (CPPI) năm 2025 của Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp S&P Global Market Intelligence, cảng Cái Mép và Hải Phòng năm thứ 2 liên tiếp ghi dấu ấn trên bản đồ hàng hải toàn cầu và nằm trong top 20 cảng có hiệu suất tốt nhất thế giới, vượt qua nhiều cảng biển lớn trong khu vực.
PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và hải đảo Việt Nam, đánh giá sau sáp nhập thì có tới 21/34 tỉnh thành giáp biển, cho thấy T.Ư đã có những bước chuẩn bị sớm cho phương án chiến lược dài hạn để Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia biển mạnh. Quy mô không gian biển tỉnh, thành phố có biển được giữ nguyên như Quảng Ninh, Hải Phòng, hoặc được mở rộng như Khánh Hòa, TP.HCM, Cà Mau… đem lại cơ hội để xây dựng mô hình tăng trưởng mới trong quy hoạch điều chỉnh các tỉnh, thành phố có biển. Nhiều cơ hội chiến lược đã mở ra cho các địa phương và kinh tế quốc gia như mở rộng không gian để tăng dư địa phát triển, dễ dàng hơn trong hỗ trợ vùng miền và có thêm diện tích đủ lớn hấp dẫn các nhà đầu tư chiến lược; hình thành một hệ sinh thái đa dụng cho phát triển đa dạng nhiều ngành kinh tế trên đơn vị hành chính mới; khắc phục tình trạng chia cắt hành chính trong quản lý…
Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các hoạt động khai thác biển xa, hình thành một lĩnh vực "kinh tế biển sâu" trong tương lai gần, theo ông, Việt Nam cần lựa chọn cách tiếp cận chiến lược để biến những tiềm năng này thành động lực tăng trưởng mới, tránh được nguy cơ khai thác quá mức hoặc đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế thuần túy.
"Việt Nam phải ra biển bằng "đôi chân thể chế và công nghệ" để tạo đột phá chiến lược. Trước mắt, sớm điều chỉnh luật Tài nguyên, môi trường biển hải đảo để tạo điều kiện, khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư chiến lược "tiến ra biển lớn"; ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo, các ngành kinh tế biển", PGS-TS Nguyễn Chu Hồi nhận định.
Bình luận (0)