
Thí sinh thi thử IELTS trên máy tính tại một sự kiện diễn ra hồi tháng 3.2026
ẢNH: NGỌC LONG
Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến góp ý dự thảo sửa đổi, bổ sung một số quy định tuyển sinh trình độ ĐH đến ngày 23.9. Một trong những thay đổi đáng kể mà dự thảo đề ra là bỏ điểm cộng do các trường ĐH tự quy định, trong đó có điểm cộng từ những chứng chỉ như IELTS, gây tranh luận trên các diễn đàn và mạng xã hội nhiều ngày qua.
Có em lo, em chưa thấy ảnh hưởng
K., học sinh lớp 12 Trường THPT Hùng Vương (TP.HCM), nói Thanh Niên rằng em lo sợ việc tuyển sinh sẽ mất đi tính đa dạng nếu Bộ GD-ĐT thực sự bỏ điểm cộng từ IELTS - kỳ thi em đang tập trung ôn luyện để lấy chứng chỉ thời gian qua. Bởi nếu đề tiếng Anh thi tốt nghiệp THPT "khó hoặc sàng lọc không tốt", thí sinh sẽ không có phương án dự phòng nào khác để vào trường mình yêu thích.
"Chỉ một bài thi và một lần thi chưa chắc phản ánh được hết năng lực của học sinh, thế nên em nghĩ nếu mất đi ưu thế từ các chứng chỉ như IELTS sẽ ảnh hưởng cơ hội xét tuyển ĐH", nam sinh chia sẻ.
Song T., học sinh lớp 12 Trường THPT Trần Phú (TP.HCM), lại có suy nghĩ khác. Em nhìn nhận rằng việc bỏ điểm cộng từ IELTS không ảnh hưởng nhiều tới mình, dù đã dành khoảng 2 năm ôn tập và chi gần 36 triệu đồng phí học thêm ở trung tâm luyện thi. "Dù khá bất ngờ với dự thảo mới, nhưng IELTS với em như một cách để trau dồi kỹ năng giao tiếp, sử dụng tiếng Anh nên em không để ý lắm", T. bộc bạch.
T. kể thêm, em dự định xét tuyển vào Trường ĐH RMIT Việt Nam và ĐH Kinh tế TP.HCM. Ở lựa chọn 1, IELTS là yêu cầu bắt buộc để xét tuyển và xin học bổng của trường. Còn ở lựa chọn 2, IELTS đóng vai trò điểm cộng. Thế nên dù có thay đổi gì, nam sinh cũng phải dự thi IELTS để theo đuổi các nguyện vọng đã đề ra.
Trên các nền tảng mạng xã hội, việc bỏ điểm cộng IELTS cũng là tâm điểm chú ý. Chủ đề "học sinh lo về xét tuyển IELTS" cũng đang thịnh hành trên Threads cùng dòng miêu tả do AI tóm tắt, "nhiều người bày tỏ quan ngại công sức ôn luyện có thể bị lãng phí và thảo luận về tính công bằng của chứng chỉ này so với các hình thức ưu tiên khác".
Trong khi đó, viết trên Linkedin, chuyên gia về các kỳ thi ngoại ngữ Michael Goodine bình luận rằng nhiều công ty tổ chức các kỳ thi tiếng Anh hiện xem Việt Nam là "miền đất hứa", vì điểm các kỳ thi này có thể giúp người học thêm lợi thế khi nộp hồ sơ vào các trường ĐH trong nước, chưa kể nước ta vẫn có "dân số tương đối trẻ và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao".
IELTS nguy cơ gây kiệt sức, bất bình đẳng
Trước đó, trình bày tại hội thảo quốc tế VietTESOL năm 2026 diễn ra hồi tháng trước ở Đà Nẵng, ông Bùi Hoàng Minh Trung, Trường ĐH Tôn Đức Thắng (TP.HCM), đã chia sẻ một số phát hiện ban đầu trong nghiên cứu về hiện tượng kiệt sức ở những thí sinh ôn thi IELTS. Kết quả rút ra dựa trên khảo sát 133 đáp viên (respondent - người tham gia trả lời các câu hỏi trong cuộc khảo sát, phỏng vấn hoặc nghiên cứu thị trường) tuổi từ 18 trở lên, và mục tiêu của nghiên cứu là đưa số lượng đáp viên đạt mốc 300 người để phản ánh trung thực nhất thực trạng.
Nhìn chung theo nghiên cứu, IELTS không còn đơn thuần là một con điểm mà có thể mở ra nhiều cơ hội, khẳng định sự nổi trội và trở thành thước đo để so sánh. Do đó, việc luyện thi có thể mang theo những áp lực nhất định, và áp lực không chỉ đến từ bản thân kỳ thi mà còn từ kỳ vọng của gia đình, sự so sánh với bạn bè đồng trang lứa, thông điệp từ giáo viên, trung tâm và yêu cầu từ các cơ sở giáo dục - gọi chung là áp lực xã hội.
Thực tế, phát hiện sơ bộ chỉ ra rằng, áp lực xã hội càng lớn, người học IELTS càng có nguy cơ rơi vào trạng thái kiệt sức. Cường độ ôn luyện và tần suất làm bài thi thử ở nhà cũng cho thấy mối tương quan với tình trạng kiệt sức. Bên cạnh đó, nếu một bạn có ít hoặc thiếu tính tự chủ - tức không thực sự thấy mình là người chủ động quyết định việc ôn luyện - mức độ kiệt sức sẽ có xu hướng cao hơn và ngược lại.
"Chúng ta không nên xem IELTS chỉ đơn thuần là một bài kiểm tra tiếng Anh, mà cần nhìn nhận đây là một kỳ thi có thể tạo ra những hệ quả đáng kể với hỷ lạc của trẻ, cũng như của người học nói chung", ông Trung nêu quan điểm.
Nghiên cứu của ông Trần Thanh Vũ, ĐH Durham (Anh), đăng hồi 2025 trên tạp chí English Today (Tiếng Anh ngày nay) chỉ ra rằng việc giáo viên tiếng Anh phải thi IELTS để đạt yêu cầu Đề án Ngoại ngữ quốc gia năm 2020, chất lượng dạy tiếng Anh ở trường công, độ phủ của mạng lưới trung tâm khảo thí IELTS, chính sách cho dùng IELTS để xét tuyển ĐH hay sự vinh danh từ truyền thông... là các yếu tố thúc đẩy IELTS thành "cơn sốt" tại Việt Nam.
"Cuộc chạy đua IELTS đã tạo ra một xu hướng thiếu lành mạnh trong dạy và học tiếng Anh tại Việt Nam, đồng thời làm nới rộng khoảng cách kinh tế - xã hội giữa học sinh ở các vùng miền khác nhau", nghiên cứu nhấn mạnh. "Trước ‘cơn sốt’ này, đã xuất hiện nhiều lời kêu gọi nhìn nhận IELTS trong một bối cảnh phù hợp hơn - coi đó là một bài kiểm tra năng lực ngôn ngữ thay vì một thước đo hay biểu tượng của thành công".
Nghiên cứu cũng nêu thực tế rằng ngày càng nhiều người có nền tảng chuyên môn khác đã chuyển hướng qua dạy tiếng Anh như một nghề nghiệp thứ hai trước "cơn sốt" IELTS. Đây thường là những người đạt thành tích cao trong các kỳ thi đánh giá năng lực ngôn ngữ, chủ yếu là IELTS, và chọn nghề dạy học vì công việc này mang đến thu nhập hấp dẫn hoặc phù hợp hơn với tính cách của họ.
"Nhiều trung tâm ngoại ngữ tư tuyển giáo viên chỉ dựa trên điểm IELTS, tạo điều kiện cho những người này tham gia thị trường lao động giảng dạy một cách không chính thức. Hơn nữa, nhiều giáo viên chuyển nghề trong số đó, dù chưa được đào tạo về phương pháp giảng dạy, vẫn tự tổ chức các lớp học tư tại nhà mà không đăng ký với bất kỳ cơ quan quản lý nào", nghiên cứu thông tin.
Điểm cộng có thể tạo bất bình đẳng
Ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cho biết dự thảo không bãi bỏ điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng chính sách và không ảnh hưởng đến xét tuyển thẳng theo quy chế, mà chỉ đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.
Ông Thảo giải thích: "Trên thực tế, điểm cộng có thể tạo bất bình đẳng. Thứ nhất, cơ hội tiếp cận chứng chỉ, kỳ thi hoặc hoạt động được cộng điểm khác nhau theo điều kiện kinh tế, địa bàn và khả năng chi trả. Thứ hai, cùng một loại chứng chỉ nhưng mức quy đổi, mức cộng và tổ hợp áp dụng khác nhau giữa các trường.
Thứ ba, một năng lực có thể được ghi nhận 2 lần - vừa là thành phần điểm xét tuyển, vừa được cộng thêm - làm sai lệch thứ tự thí sinh. Thứ tư, ở nhóm điểm cao, chỉ một phần điểm cộng nhỏ cũng có thể thay đổi kết quả trúng tuyển, dù chưa chứng minh được mức điểm đó phản ánh tốt hơn khả năng học tập của chương trình".
Quý Hiên










Bình luận (0)