Xin mời các bạn thử đọc:
Tiếng rằng đi học đi hành
Bốn phép cội rễ tập tành đã xong
Nay ra bài vãn đố chung
Trò nào giải đặng mới mong
vô trường.
Thầy đố như thế nào? Xin mời các bạn thử giải bài toán:
Ba vịt một heo lại sáu gà
Giá gà với vịt chín quan ba
Giá heo với vịt thành năm chục
Năm mốt quan năm lợn với gà
Vậy hãy tính riêng từng vật giá
Mỗi con giá mấy nói cho ra?
Sau những bài thơ thất ngôn, thầy chuyển sang thơ lục bát. Thơ rằng:
Ngồi buồn tính sổ coi chơi
Heo mười, bò chín dễ thời bốn lăm
Tiền mua cả thẩy bốn trăm
Vậy nói cho nhằm mỗi vật
bao nhiêu ?
Ngặt tiền bán nửa để tiêu
Mỗi con hai chục ít nhiều bồ nhau
Sánh so mua trước bán sau
Nửa bầy, lời mấy nói mau thử nà?
Một đồng là bảy quan ba
Tiền lời đem đổi té ra mấy đồng?
Đổi dư tiền kỉnh cho ông
Mua năm phong kẹo mỗi phong 9 tiền
Vậy thì tính lại cho miêng
Tiền ông còn mấy để biên cho nhằm?
Dê bò còn lại bao lăm
Phải nuôi đứa giữ một năm 6 đồng
Heo thì tốn cám, tốn rong
Mỗi ngày tính lại cũng xong 4 tiền
Một năm nuôi cũng vẹn tuyền
Nay bán lấy tiền ba chục mỗi con
Tính tiền sau trước vuông tròn
Mua nuôi các bạn lời còn chừng mô?

Sách giáo khoa Thiệt hành điển học - sách dành cho học sinh tại các trường học nghề
ẢNH: TƯ LIỆU LÊ MINH QUỐC
Các bạn thử giải bài toán trên thử xem sao! Thời đó, tiếng Pháp mới du nhập vào nước ta nên có một số từ vẫn giữ nguyên, chẳng hạn taux (tiền lời) hoặc temps (thời gian)... Vậy thầy mới đặt thơ cho học trò dễ thuộc:
Tìm taux, tìm vốn, tìm temps
Lời, trăm, niên, nguyệt thì bằng đặt trên
Tìm lời thì có luật riêng
Taux, temps và vốn đặt trên hoài hoài.
Ngay cả môn hình học, cũng đặt thơ:
Thoa hình đo góc hoành trường
Nhơn thừa chiết bán sẽ tường phân minh.
hoặc:
Cổ hình, tam quãng đồng quy
Bội trung gia nhị khoát tứ quy dĩ trường thừa.
Mới đọc qua nghe khó hiểu nhưng minh họa cho mấy câu thơ này còn có hình vẽ và những lời giải rõ ràng nữa. Thời đó, học trò còn phải học về phép quy điền. Tác giả cho biết ở trang 181 của cuốn sách trên: "Theo Nghị định năm 1917 thì một mẫu ruộng Annam có 4970 m 25, một sào ruộng có 497 m 0250, một thước ruộng có 33 m 1350, một tấc ruộng có 3 m 3125". Xin trích thêm một đoạn ở trang 207 để thấy phép đong lường: "Có nhiều nơi dùng thúng lường quen gọi là thúng thước 6 vì cái tre đan chính giữa thúng dài 1 thước 6 tấc mộc. Có nơi lại dùng thúng thước 8 hoặc già thước 8 hay thúng thước 9. Thúng thế ấy có khi họ đóng một cái hộc vuông bằng săng, quen gọi là cái ang, cái vuông hay là cái hộc".
Còn về cân lượng, ta thấy có so sánh cân Annam với cân Tây ở trang 215, và ảnh minh họa như sau: 1. Cái cân; 2. Thước tây; 3. Khuôn đo củi; 4. Thước cuộn bằng dây; 5. Trái cân bằng sắt; 6. Trái cân bằng đồng; 7. Dụng cụ đo lường bằng gỗ dùng để đong lúa, bắp...; 8. Tấm cân bằng sắt; 9. Dụng cụ đo lường bằng sắt đồng dùng để lường dầu, rượu...; 10. Dây thước bằng sắt dùng đo ruộng; 11. Các dụng cụ đo lường bằng sắt; 12. Cây thước ghi tấc tây.
Thiết nghĩ những thông tin này, nay ta đọc lại cũng không thừa, ít ra cũng giúp cho ta có khái niệm về cân đo đong đếm thời trước. Và như ta đã biết, thuở ấy tiếng Pháp chưa hoàn toàn thắng thế nên trong sách giáo khoa, dù là sách dạy toán nhưng vẫn còn dùng cả chữ Hán. Bây giờ, để thư giãn, xin mời bạn thử giải bài toán dành cho cậu học trò cách ta gần trăm năm:
Sáu mươi ba cả ngựa liền voi
Tám mốt cái đuôi cộng với vòi
Hãy toán cho nhằm đừng tính rợ
Mấy voi mấy ngựa tính mà coi?
Còn trường bá nghệ nhằm dạy nghề cho người bản xứ, từ thời điểm nào người Pháp đã mở? Xin nêu ra cột mốc gần đây nhất: "Ngày 11.4.1904, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định mở Trường học nghề ở Sài Gòn. Trường gồm ba ngành: nguội, mộc, đúc loại nhỏ. Thời gian học: 3 năm" (Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1918 của Viện Sử học - NXB Giáo Dục, 1999, tr.284). Không rõ, thuở ấy các học trò được học giáo trình nào do người Pháp biên soạn. Nhưng có một điều chắc chắn, đã có không ít nhà giáo tâm huyết với chương trình học đã biên soạn sách giáo khoa nhằm phục vụ cho một môn học còn quá xa lạ, mới mẻ đối với người Việt nói chung.
Trong tài liệu sưu tập, tôi còn giữ được quyển sách giáo khoa Thiệt hành điển học do Alexis Lân, Ingénieur Électricien A. & M - I.E.G biên soạn, Imprimerie F.H Schneider xuất bản năm 1917 tại Sài Gòn:"Sách dạy những điều cần kíp cho những thợ Annam làm các máy điển khí và những học trò các trường bá nghệ". Sách in hai thứ tiếng Pháp - Việt, dạy tương đối đầy đủ về môn học về điện mà học trò cần phải biết.
Chẳng hạn, đây là Bài toán số 8: "Hai cái đèn thắp bằng than sức nó là 10 ampères mà câu en série theo một mạch hơi là 120 volts. Mình biết cái différence de potentiel của mỗi cái đèn không có quá trên 45 volts phải độ một cái résistance mà câu en série với hai cái đèn đó đặng cầm bớt volts cho vừa theo sức nó". Giải nghĩa: Hai cái đèn nó rút hơi một lượt là: 45 x 2 = 90 volts. Nó còn dư ra là 120 - 90 = 30 volts. Cho đặng cầm cái hơi đó thì phải dùng một cái résistance là: 30 : 3 = 3 ohms" (tr.77). (còn tiếp)
Bình luận (0)