Lai rai kể chuyện 'ông già đi bộ' Sơn Nam: 'Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh'

Nhà văn Sơn Nam có lần tâm tình với tôi: "Lên Sài Gòn, làm quen với vùng đất tạm gọi là cũ ở Hóc Môn, tôi thấy phía Hậu Giang toát lên nhiều nét lạ; cũng như khi so sánh U Minh với vùng Cai Lậy, Cái Bè, tôi gặp những nét tương phản, không mơ hồ. "Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh". Tôi càng tin vào thế mạnh của mình".

Bổ sung cho thế mạnh đó, đối với Sơn Nam, còn là viện bảo tàng. Ông quan niệm: "Ở viện bảo tàng, nếu biết giới thiệu ta vẫn tạo được sức sống tươi mát, có thể bồi dưỡng cho giới trẻ, kể cả thiếu nhi, những phút giây lạc quan, không gì thay thế được. Đó là nhu cầu sâu kín, âm thầm, như bữa tiệc thịnh soạn phải có mặt nước mắm, cá kho, thịt kho, dưa cải; thiếu thì cũng được, nhưng người ăn vẫn thắc mắc điều gì, khó nói.

(…) Ví dụ sẽ thích thú khi biết Cảng Sài Gòn thời trước gọi là chợ Bến Thành; BếnCảng, bến của thành Gia Định. Vùng cư xá nay gọi Thanh Đa, bắt nguồn từ tên làng Thạnh Đa (có dấu nặng) ghi rõ trong Gia Định Thành Thông Chí; thời thực dân, công chức Pháp bắt đầu hướng dẫn, nên ghi là Thanh Da"… (Báo Tuổi Trẻ chủ nhật năm 1989).

Dù miệt mài đọc sách, vào thư viện, tham quan bảo tàng… và tạo được tên tuổi, Sơn Nam vẫn giữ trọn sự khiêm tốn. Ông bộc bạch: "Phải nói người đi trước tôi về chuyện đồng quê Nam bộ, đáng kính đáng mến là Hồ Biểu Chánh. Ông giữ chức "chủ quận" ở Càng Long thời Pháp (nay là tỉnh Cửu Long), thích giao du với hương chức hội tề, ưa thăm viếng làng mạc, quan sát giỏi, hiểu tâm lý người ở nông thôn. Theo tôi, đó là người bẩm sinh giỏi về văn chương, vượt hơn tôi bội phần về năng khiếu, về bố cục, và rất dài hơi. Bấy giờ, máy nhập cảng còn ít, in quá chậm, giấy lại nhập cảng; nếu gặp thời sau này, có lẽ ông sẽ sáng tác nhiều tác phẩm dày hơn về số trang.

Lai rai kể chuyện 'ông già đi bộ' Sơn Nam: 'Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh'- Ảnh 1.

Nhà văn Hồ Biểu Chánh

ẢNH: TƯ LIỆU

(…) Là kẻ sanh sau đẻ muộn, tôi được may mắn hơn Hồ Biểu Chánh về "cái nhìn". Ánh sáng của Cách mạng Tháng Tám. Vai trò tiên phong của Đảng Cộng sản. Thêm chủ nghĩa Mác - Lênin mà tôi được huấn luyện sơ sài. Người thứ nhì, đi trước tôi, tài hoa hơn tôi là đồng chí Phi Vân quê ở Cà Mau, tác giả đã mất vì bịnh sau năm 1975. Anh là ký giả tài ba; tập Đồng quê của anh viết vào khoảng sau 1940, duyên dáng, tràn sức sống không cường điệu" (Báo Tuổi Trẻ chủ nhật - 1989).

Để có thể bền lòng đeo đuổi mục đích đã đặt ra, về chuyên môn, Sơn Nam hay lui tới thư viện, viết như một nhu cầu tự thân, như sống phải thở; còn sinh hoạt đời thường ông khá giản dị. Ta hãy nghe ông "tự bạch": "Tôi sống đơn giản, hút thuốc đen, đi bộ, ngồi xe lam, quần áo nhăn nhíu... sao sao cũng được. Tiền bạc tới cỡ nào thì vui tới cỡ đó. Ban ngày viết bài cho nhựt báo, ban đêm đọc sách cho vui, hễ thấy quá mệt thì ngủ, ngày mai hãy tính. Đọc những sách về dân tộc học, xã hội học, về đồ sứ Trung Hoa, về đời sống thảo mộc, chim chóc và chuyện khôi hài.

Ngoài quyền lợi "viết lách", tôi chẳng còn nguồn lợi nào khác. Viết cho báo hằng ngày là nghề tay mặt cũng là tay trái vì lắm khi viết những chuyện đâu đâu, xen vào đó vài đoạn mà mình thích. Viết cho báo hằng ngày là chuyện cực nhọc như trâu kéo cày, đồng thời cũng sướng như tiên. Tiền bạc lãnh đều như một tư chức, làm rất ít giờ, chẳng ai rầy rà nói nặng nhẹ trước mặt mình. Dầu vô tâm đến thế mấy, mình vẫn dính dáng tới thời cuộc, đầu óc lanh lẹ hơn. Nhưng con người nào phải là cái máy, đau ốm mà viết đều đều là một cực hình" (Tạp chí Văn - 1969).

"Cực hình" này vẫn đeo bám lấy Sơn Nam cho đến cuối đời. Chỉ đến khi "nằm một chỗ" thì ông mới thôi viết. Nhờ lao động nghiêm túc như thế, ngoài các tác phẩm văn học, ở lĩnh vực khảo cứu Sơn Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng về công cuộc tìm hiểu "văn minh miệt vườn". Do đó, không phải ngẫu nhiên đương thời mọi người đã tôn vinh và gọi ông bằng cái tên trìu mến, kính trọng "Nhà Nam bộ học".

Lai rai kể chuyện 'ông già đi bộ' Sơn Nam: 'Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh'- Ảnh 2.

Ký giả Phi Vân

ẢNH: TƯ LIỆU

Bài báo cuối cùng của Sơn Nam, chính là bài tựa cho tập sách Người Quảng Nam của tôi, viết trước ngày ông mất ít lâu, trong phần kết luận, ông viết: "Viết về vùng đất mình sinh ra là chọn con đường đi đúng hướng, để qua đó sống lại với đời sống tâm linh nguồn cội. Đời sống tâm linh là cần, nhưng cái tâm linh dạt dào sức sống ấy phải thúc đẩy con người nhìn ra thế giới, với các nước láng giềng. Tự tôn với cái "tâm linh thuần túy" của mình là tự sát. Phải tạo ra cái vật chất, phải có khoa học kỹ thuật, phải tồn tại và tồn tại cho bằng được".

Ý thức viết như thế đã góp phần lý giải vì sao những công trình biên khảo của Sơn Nam hầu như không lỗi thời theo năm tháng. Trước năm 1975, ông đã có những tác phẩm khảo cứu nổi tiếng như Tìm hiểu đất Hậu Giang (1960), Nói về miền Nam (1967), Người Việt có dân tộc tính không (1969), Văn minh miệt vườn (1970), Miền Nam đầu thế kỷ XX - Thiên địa hội và cuộc Minh tân (1971), Gốc cây, cục đá và ngôi sao (1973), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973). (còn tiếp) 

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.