Đó là chuyện tại làng gốm nổi danh Mỹ Thiện, ở Châu Ổ, xã Bình Sơn (Quảng Ngãi) đã tồn tại hàng trăm năm. Phô cái cười chất phác của thợ gốm, ông Đặng Văn Trịnh (64 tuổi) bảo: "Tui dễ là người dọn lò gốm cuối cùng ở đây quá. Xưa, để thợ gốm tui đến dọn lò, phải trầu rượu hẳn hoi mới mời được. Giờ đâu nữa…".
Tiếng "đâu nữa" thay tiếng thở dài, chìm trong lò gốm, tê tái một khúc sông chiều Bến Củi.
Trầu, rượu đủ mới mời được thợ dọn lò
Một chiều nắng hiếm hoi của cuối thu. Sắc trời nhuộm vàng xóm Bến Củi bên sông Trà Bồng (tổ dân phố Châu Ổ, xã Bình Sơn). Nắng cũng len qua tầng cây lá, rọi vào lò gốm ông Trịnh và vợ Phạm Thị Cúc (60 tuổi). Lò gốm cuối cùng của gốm Mỹ Thiện xứ này.

Lò gốm Mỹ Thiện còn lại nằm sâu trong con hẻm tổ dân phố Châu Ổ, xã Bình Sơn (Quảng Ngãi)
ẢNH: P.A
Chiều ấy, tranh thủ nắng, vợ chồng ông Trịnh mang các bình gốm ra phơi cho kịp khô để nhuốm lò nung mới. Chiều vàng cứ rọi lên bình gốm đất, đẹp đến ám ảnh lòng người.
"Vài ba cái nắng nữa là dọn lò gốm được rồi. Ôi cái nghề dọn lò...". Ông Trịnh phô cái cười chất phác của thợ gốm, bảo: "Tui dễ là người dọn lò gốm cuối cùng ở đây quá. Xưa, để thợ gốm tui đến dọn lò, phải trầu rượu hẳn hoi mới mời được. Giờ đâu nữa…".
Cứ ngỡ dọn lò gốm có gì phải "làm màu", giống như dọn cái lò bếp nào đó thôi. Ấy vậy mà không phải đơn giản như thế và cũng không thể ngờ, cả làng gốm Mỹ Thiện xưa, thợ dọn lò gốm chỉ có vài ba người thôi. Nó như ông thợ nghề cả.

Phơi gốm
ẢNH: P.A

Lò gốm duy nhất còn sót lại ở làng gốm Mỹ Thiện
ẢNH: P.A
Mời khách ngồi tạm trên một đôn ghế gỗ, ông Trịnh kể, ông học được nghề từ ông nội mình truyền lại. Nhà đông người, nhưng ông là truyền nhân duy nhất của gia đình do đích thân ông nội chọn để dọn lò.
Nôm na, nghề dọn lò gốm như thợ cả nấu đường chòi mía ở Quảng Ngãi. Lò do đích thân thợ đắp. Đảm bảo khi nấu đường thì thêm vôi, trộn mật, pha mật lên 4 lá chảo để cuối ngày phần nào ra đường, phần nào chè hai, phần nào mật dành cho ngày sau… phải do anh thợ nấu đường tính toán.

Ông Đặng Văn Trịnh giới thiệu về bình gốm lên men đặc trưng của gốm Mỹ Thiện
ẢNH: P.A
Dọn lò gốm còn phức tạp hơn. Bác thợ phải dùng thước gỗ, thước thủy đo lường bình độ cát lót từ miệng lò, giữa lò, cuối lò và hai bên thân lò bên trong.
"Cứ lệch vài ly, có khi sâu trong lò thì gốm xanh ra lò tốt, còn phía ngoài lò thì bình gốm ra lò đỏ rực, tự bể vỡ dần, gọi là gốm bị 'sống', bán không được", ông Trịnh nói.
Đặc trưng của gốm Mỹ Thiện là màu gốm đen xanh đậm khi ra lò và đã thành danh không nơi nào có được. Cứ gốm ra lò, thấy màu đỏ là xem như công cốc. Có thể không đủ lửa, không đủ thời gian nung, nhưng lý do nhiều nhất là do dọn lò không kỹ, sản phẩm gốm đưa vào nung đặt không đúng kỹ thuật. Tất cả đều từ bác thợ dọn lò gốm mà ra.

Bà Phạm Thị Cúc và sản phẩm bình gốm tự tay mình tạo hình
ẢNH: P.A
Ông Trịnh bảo, làng Mỹ Thiện xưa rất sầm uất, nhà nhà làm lò gốm, nhưng nghề dọn lò như ông thì chỉ vài ba người.
Ông Đặng Mẫn (90 tuổi), chú họ của ông Trịnh, nhớ xưa rằng, mình cũng làm lò gốm nhưng không biết dọn lò. Hồi đó, trước là ông nội rồi sau đến đời ông Trịnh, các chủ lò gốm mỗi lần đến mời để dọn lò gốm, đều có lễ vật mang đế, dó trầu, rượu hẳn hoi. Lò gốm ra đạt chất lượng, chủ lò còn thưởng… chầu rượu lai rai thêm. Có điều, thợ dọn lò gốm dù mệt nhọc là thế, vẫn không ai lấy tiền, giúp nhau là chính.

Bình gốm cho men chảy tự nhiên của ông Đặng Văn Trịnh
ẢNH: P.A
Học nghề dọn lò khó nên hầu như các lò gốm ít người học được. Ai muốn học cũng phải kính thầy, mới được truyền hết "chiêu thức". Ông Trịnh kể, ngay như ông nội mình, chỉ còn thời gian ngắn nữa là theo về tổ tiên, mới gọi ông Trịnh đến giường, chỉ cho bí quyết cuối cùng nghề dọn lò gốm và vật liệu lên men gốm nổi tiếng của Mỹ Thiện.
"Rất đơn giản, nhưng không biết thì đành chịu", ông Trịnh nói.
Thợ tạo khuôn hình gốm cuối cùng
Từng đỏ lửa ngày đêm, gốm Mỹ Thiện theo ghe bầu xuôi dòng Trà Bồng đến nhiều vùng đất, cả thương thuyền Trung Quốc cũng tìm về. Đến giờ làng nghề nổi tiếng nay chỉ còn vợ chồng ông Đặng Văn Trịnh bám nghề, giữ lại chút hồn xưa.
Theo các vị cao niên ở đây, Mỹ Thiện xưa có hai xóm: xóm Gốm và xóm Củi. Xóm Gốm là nơi các hộ dân làm gốm, còn xóm Củi chuyên cung cấp nhiên liệu để nung sản phẩm.

Hằng ngày, lò gốm duy nhất ở làng gốm Mỹ Thiện vẫn hoạt động
ẢNH: P.A
Ngày trước, khi chưa có bờ kè, sông Trà Bồng áp sát khu dân cư. Người làng đào một con lạch rộng hàng chục mét, sâu vài mươi mét, nối từ sông vào xóm Gốm, tạo đường vận chuyển thuận tiện. Qua nhiều trận lũ, dòng sông đổi dòng, bồi lở liên tục khiến con lạch cạn dần, bờ sông ngày càng lùi xa. Xóm Củi là bãi bồi bên sông ngày xưa nay gọi là Bến Củi, ra đời sau xóm Gốm.
Dấu tích xóm Bến Củi nay gần như biến mất dưới bờ kè, khi đào móng xây nhà, người dân đôi lúc vẫn phát hiện dây neo nằm sâu dưới cát, có thể là dấu vết tàu thuyền từng neo đậu.
Thời hoàng kim, người dân làm gốm Mỹ Thiện lao lực cả ngày lẫn đêm để kịp giao hàng cho thương lái. Mùa nắng, sông Trà Bồng nước sâu, hàng chục ghe bầu chờ sẵn để chở gốm đi tiêu thụ, trong đó có cả thương thuyền Trung Quốc. Gốm sau khi nung được gánh ra bờ sông, nhưng con lạch dẫn đến bến Củi mới là tuyến vận chuyển thuận lợi nhất.
Từ những lò nung trong xóm, sản phẩm theo dòng nước ra thuyền buôn, đưa danh tiếng gốm Mỹ Thiện đi xa.

Kiểm tra gốm trước khi đưa vào lò nung
ẢNH: P.A
Năm 1982, làng gốm Mỹ Thiện thành lập hợp tác xã. Dù chỉ sản xuất khoảng 6 tháng mỗi năm, hoạt động làm ăn vẫn sung túc, hàng làm ra không đủ đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Khoảng sau thập kỷ 1990, làng nghề bắt đầu sa sút. Nguồn đất sét làm gốm ngày càng khan hiếm, củi nung cũng thiếu hụt, khiến việc duy trì sản xuất trở nên khó khăn. Những lò gốm lần lượt nguội lạnh, người thợ bỏ nghề tìm kế sinh nhai khác.

Đưa gốm ra nắng phơi
ẢNH: P.A
Đến nay, giữa làng nghề từng có những ngày đỏ lửa, nhưng chỉ còn vợ chồng ông Trịnh tiếp tục sống với nghề xưa. Đến nay, nhịp sản xuất của lò gốm khá hơn nhiều năm trước, nhờ tiếng lành vang xa, nhờ chân tâm nên nghề không phụ người. Thế nhưng, "một cây làm chẳng nên non", chưa đủ để vực dậy cả làng nghề.
Ngày ngày vợ chồng ông Trịnh vẫn say sưa với gốm, say sưa kể chuyện về Bến Củi, chuyện những chuyến ghe bầu và thời làng gốm nhộn nhịp. Có điều, vẫn còn đó lời nuối tiếc, khắc khoải.

Khoảng 45 năm, bà Phạm Thị Cúc sống với nghề "ăn đất, ngủ lò"
ẢNH: P.A
Bà Phạm Thị Cúc, vợ ông Trịnh, bây giờ là người duy nhất của làng gốm biết kỹ thuật nắn, tạo hình gốm. "Không yêu nghề không theo được. Ai cũng bảo, bây nghỉ quách đi, nghề gì ăn đất, ngủ lò", bà Cúc thả lòng kể.
Làm sao bỏ được nghề. Xưa 14 - 15 tuổi, bà Cúc đã theo học tạo hình gốm. Nghề này ở Mỹ Thiện, các bà mẹ chỉ truyền cho con gái. Tuy không phức tạp như dọn lò gốm, nhưng hai bàn tay phải "quen" với đất. Nhào, nắn, vo dài… dần theo năm tháng, đôi bàn tay ấy cảm nhận được riêng cái hồn của đất. Khi ấy, tạo hình gốm với ưng ý mát lòng.
Thoắt cái 45 năm làm bạn với đất sét, khoảng 40 năm gắn bó lò gốm với chồng, bà Cúc chưa hề dứt ra được. Ngần ấy thời gian vẫn không quên thêm củi, bớt lửa khi nung gốm. Những đêm thao thức bên lò vì trở trời, thời tiết đổi thay, chỉ sơ sút một tí là nguyên lò gốm bị "sống". Công sức, tiền bạc xem như mất hết.
Đợi duyên rồi sẽ truyền nghề
Sáng hôm sau, chúng tôi lại đến lò gốm nhà ông Trịnh. Bà Cúc bên bàn xoay tạo hình, anh Trịnh đang làm men gốm. Còn ở giữa sân, cụ bà phúc hậu tên Nguyễn Thị Quyên (82 tuổi) đang dán cườm trên từng miệng bình gốm do bà Cúc vừa làm xong.

Bà Nguyễn Thị Quyên trang trí bình gốm
ẢNH: P.A
Bà Quyên bảo, bà Cúc là con gái của bà. Những gì bà Cúc có là do chính tay bà truyền nghề. Còn với dán cườm trên từng bình gốm, bà Quyên bảo hiện giờ cả làng gốm có 3 người đàn bà như mình biết làm, thì hai bà kia giờ không theo nghề nổi.
"Chỉ còn mình già này là hết. Không biết còn thêm đứa nào biết nghề như con Cúc nữa", bà Quyên nói với tôi.
Bà bảo rằng, muốn đứa con gái nào ấy đến đây, bà dạy cho cách vọc lấy đất sét. Ban đầu quen tay, sau thì có cảm giác đất... tới. Đến khi ngón tay cái và ngón trỏ ấn dán cườm vào bình gốm không mạnh, không nhẹ. Khi gốm ra lò, cườm trên bình được trang trí không rớt ra, xem như đã học được nghề.

Màu gốm ánh lên trong nắng chiều trong lò gốm của vợ chồng ông Trịnh, bà Cúc
ẢNH: P.A
Ước mong là vậy. Ông Trịnh mong có chàng trai để truyền nghề dọn lò, bà Quyên truyền nghề dán cườm, còn bà Cúc vừa mới nhận "đệ tử".
"Mình phải lo cơm nước, trả tiền công nữa. Không biết cô này có theo nghề mình không. Thật ra tất cả phải có cơ duyên", bà Cúc nói.
Ông Trịnh bên này, tay trộn men gốm, tiếp lời: "Cứ đợi duyên. Biết đâu ngày nào đó có ai đó đến học nghề".
Bến Củi còn đó, còn danh mất tiếng. Mỹ Thiện còn đó, có danh, có tiếng xưa, nhưng giờ mong manh lắm. Sầm uất xưa đã khuất dưới những lớp bồi lở của dòng sông Trà Bồng. Ngọn lửa lò vẫn cháy. Cháy mong manh chờ có người tiếp nối.










Bình luận (0)