Lô thực phẩm tắc hơn 100 ngày: Từ một vướng mắc hành chính đến hồ sơ hình sự

Việc chuyển hồ sơ khi phát hiện dấu hiệu tội phạm là thẩm quyền của cơ quan chức năng. Tuy nhiên, trong vụ lô thực phẩm bổ sung của Công ty TNHH SEACRET, việc xác định có hay không vi phạm để chuyển hồ sơ vẫn là điều tranh luận.

Như Thanh Niên đã thông tin, ngày 19.8, Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ban hành quyết định chuyển hồ sơ vụ việc liên quan lô 10.080 lon thực phẩm bổ sung Alpha Lipid Lifeline của Công ty TNHH SEACRET sang Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM.

Lô hàng xuất xứ New Zealand, được doanh nghiệp đăng ký tờ khai nhập khẩu từ ngày 26.5 nhưng đến nay vẫn chưa được thông quan.

Ở bài trước, Thanh Niên đã phản ánh nhiều diễn biến bất thường trong quá trình xử lý lô hàng, từ việc chứng thư kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đã được cấp sau đó bị thu hồi, đến một biên bản ghi doanh nghiệp không đến làm việc trong khi tài liệu cho thấy lãnh đạo doanh nghiệp thực tế đã có mặt tại trụ sở Hải quan sáng cùng ngày.

Điều cần làm rõ tiếp theo là, từ một vướng mắc về thủ tục công bố sản phẩm, căn cứ nào khiến vụ việc được chuyển sang hướng xem xét trách nhiệm hình sự?

Từ một vướng mắc hành chính đến hồ sơ hình sự - Ảnh 1.

Thông tin trong bản tự công bố sản phẩm của SEACRET

ẢNH: T.H

Hải quan căn cứ đâu xác định vi phạm?

Nguồn gốc toàn bộ vụ việc là cách hiểu khoản 4 điều 5 Nghị định 15/2018/NĐ-CP.

Hải quan cho rằng thông tin thành phần thể hiện trên nhãn lô hàng có khác biệt với bản tự công bố trước đó, vì vậy SEACRET phải thực hiện thủ tục tự công bố lại sản phẩm. Doanh nghiệp không đồng ý.

Theo SEACRET, nguyên liệu, công thức, nhà sản xuất và xuất xứ sản phẩm không thay đổi; sự khác biệt chỉ nằm ở cách định danh, mô tả và thể hiện thành phần trên nhãn. Vì vậy, doanh nghiệp cho rằng trường hợp của mình thuộc vế thứ hai của khoản 4 điều 5: chỉ phải thông báo bằng văn bản về nội dung thay đổi cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Trước khi nhập khẩu lô hàng, SEACRET đã hai lần gửi văn bản thông báo điều chỉnh tới Sở An toàn thực phẩm TP.HCM.

Điều đáng chú ý là trong quá trình xử lý vụ việc, chính Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã có văn bản hỏi Sở An toàn thực phẩm TP.HCM về trường hợp của doanh nghiệp.

Văn bản trả lời của Sở xác nhận đã tiếp nhận bản tự công bố sản phẩm của SEACRET, đồng thời dẫn đầy đủ khoản 4 điều 5 Nghị định 15/2018, gồm cả trường hợp phải tự công bố lại và trường hợp chỉ phải thông báo.

Sở An toàn thực phẩm không kết luận SEACRET vi phạm và cũng không xác định doanh nghiệp bắt buộc phải tự công bố lại sản phẩm.

Thế nhưng, sau đó Hải quan cửa khẩu vẫn lập biên bản với nhận định doanh nghiệp "chưa thực hiện tự công bố lại sản phẩm theo quy định tại khoản 4 điều 5 Nghị định 15/2018".

Đây chính là một trong những nhận định sau đó được viện dẫn trong quá trình xử lý vụ việc.

Vấn đề ở đây là, khi cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về an toàn thực phẩm chưa kết luận doanh nghiệp thuộc trường hợp bắt buộc phải công bố lại, căn cứ chuyên môn và pháp lý nào để cơ quan hải quan tự xác định nghĩa vụ này đã bị vi phạm?

Câu hỏi càng đáng chú ý bởi thực phẩm bổ sung thuộc nhóm sản phẩm do ngành y tế quản lý về an toàn thực phẩm; bản tự công bố sản phẩm của SEACRET cũng được nộp tại cơ quan do UBND TP.HCM chỉ định, trong trường hợp này là Sở An toàn thực phẩm TP.HCM.

Nói cách khác, nghĩa vụ hành chính được cho là bị vi phạm vẫn đang tồn tại cách hiểu khác nhau, nhưng nhận định của Hải quan về nghĩa vụ đó lại trở thành mắt xích quan trọng dẫn vụ việc sang bước xử lý tiếp theo.

Từ một vướng mắc hành chính đến hồ sơ hình sự - Ảnh 2.

Vì sao Vinacontrol Hải Phòng thu hồi chứng thư đã cấp là câu hỏi cần giải thích minh bạch

Một điều khoản, vì sao chỉ dẫn một nửa?

Diễn biến đáng chú ý tiếp theo nằm ở Công văn ngày 17.7 của Hải quan cửa khẩu gửi Chi nhánh Vinacontrol Hải Phòng.

Trước đó, Vinacontrol Hải Phòng - tổ chức được chỉ định thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với lô hàng - đã kiểm tra hồ sơ và cấp thông báo kết quả, qua đó lô hàng có chứng từ chuyên ngành để thực hiện thủ tục nhập khẩu.

Theo tài liệu Thanh Niên tiếp cận, trước ngày 17.7, Vinacontrol chưa đặt vấn đề SEACRET phải tự công bố lại sản phẩm. Tuy nhiên, trong Công văn gửi Vinacontrol, Hải quan cửa khẩu dẫn khoản 4 điều 5 Nghị định 15/2018 theo hướng: Trường hợp sản phẩm có sự thay đổi về tên sản phẩm, xuất xứ, thành phần cấu tạo thì tổ chức, cá nhân phải tự công bố lại sản phẩm.

Đáng chú ý, ngay sau nội dung trên, văn bản không dẫn tiếp vế còn lại của cùng khoản luật, quy định rằng đối với các thay đổi khác, tổ chức, cá nhân chỉ phải thông báo bằng văn bản về nội dung thay đổi tới cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và được sản xuất, kinh doanh sản phẩm ngay sau khi gửi thông báo.

Trong khi đó, tại chính công văn này, khi viện dẫn khoản 2 điều 18 Nghị định 15/2018 về thành phần hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước, Hải quan lại dẫn đầy đủ các nội dung của điều khoản.

Như vậy, cùng một văn bản, nhưng một quy định được dẫn đầy đủ, còn quy định đang là tâm điểm tranh luận lại chỉ thể hiện phần có lợi cho nhận định rằng doanh nghiệp phải công bố lại.

Hai ngày sau khi nhận công văn của Hải quan, Vinacontrol Hải Phòng thay đổi quan điểm, cho rằng SEACRET thuộc trường hợp phải tự công bố lại. Sau đó, chứng thư kiểm tra an toàn thực phẩm đã cấp cho lô hàng bị thu hồi.

Điều cần được làm rõ là Vinacontrol thay đổi kết luận trên cơ sở phát hiện mới về hồ sơ, chất lượng hoặc an toàn của lô hàng, hay từ cách diễn giải quy định được Hải quan chuyển tới?

Nếu không phát hiện tình tiết mới về bản chất sản phẩm, thì việc Vinacontrol thay đổi quan điểm, thu hồi chứng thư đã cấp sau công văn đề nghị của hải quan cần được giải thích minh bạch.

Dấu hiệu tội phạm cụ thể là gì?

Đến ngày 19.8, những gì thể hiện trong hồ sơ vẫn cho thấy mấu chốt vụ việc là tranh luận doanh nghiệp phải tự công bố lại sản phẩm hay chỉ cần thông báo thay đổi. Cơ quan quản lý chuyên ngành được Hải quan hỏi ý kiến chưa kết luận SEACRET thuộc trường hợp bắt buộc phải tự công bố lại; chưa có tài liệu cho thấy lô hàng không bảo đảm an toàn thực phẩm; mã số hàng hóa cũng đã được cơ quan kiểm định của Hải quan xác định phù hợp với khai báo. Trong khi đó, một số biên bản được sử dụng trong quá trình xử lý lại có nội dung không thống nhất với diễn biến thực tế.

Bởi vậy, điều cần Hải quan làm rõ là: từ những dữ kiện nào cơ quan này xác định vụ việc đã vượt khỏi phạm vi xử lý hành chính để có dấu hiệu tội phạm? Nếu căn cứ vẫn xuất phát từ việc doanh nghiệp bị cho là chưa tự công bố lại sản phẩm, thì phải chỉ rõ hành vi đó có dấu hiệu của tội danh nào, yếu tố cấu thành được xác định ra sao và chứng cứ nào chứng minh.

Đặc biệt, khi chính cơ quan chuyên ngành về an toàn thực phẩm chưa kết luận doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ tự công bố lại, việc một tranh luận về cách áp dụng khoản 4 điều 5 Nghị định 15/2018 sau đó trở thành căn cứ đưa vụ việc sang cơ quan điều tra là một bước chuyển rất lớn, cần được giải thích bằng căn cứ pháp lý và chứng cứ cụ thể, chứ không thể chỉ dừng ở việc viện dẫn các biên bản làm việc.

Thanh Niên đã gửi câu hỏi tới cơ quan Hải quan, đề nghị làm rõ hành vi cụ thể được cho là có dấu hiệu tội phạm, tài liệu làm căn cứ chuyển hồ sơ, cũng như tính chính xác của những biên bản được viện dẫn trong quyết định ngày 19.8. Báo sẽ tiếp tục thông tin khi nhận được phản hồi.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.