Ngăn chặn nguy cơ chuyển giá

Nhập khẩu nhiều, xuất khẩu ít hay lập nhiều công ty mua bán lòng vòng, báo lỗ nhiều năm... vẫn là những nghi án chuyển giá, trốn thuế diễn ra tại VN thời gian qua.

Nhiều ngành nhập nhiều, xuất ít

Tại hội nghị về thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu mới đây, Ủy viên Bộ Chính trị - Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu làm rõ nguyên nhân nhập siêu tăng, nhất là khi xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp (DN) trong nước tăng chậm, trong khi nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị lên cao. Đặc biệt cần làm rõ DN nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị để làm gì, tiến độ sản xuất ra sao và khả năng chuyển hóa lượng nhập khẩu này thành sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu. Đáng chú ý là lĩnh vực máy tính, linh kiện điện tử và các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có kim ngạch nhập khẩu lớn hoặc tăng đột biến.

Ngăn chặn nguy cơ chuyển giá- Ảnh 1.

Hoạt động chuyển giá, trốn thuế vẫn diễn ra

Ảnh: Ngọc Thắng

Nhìn vào cơ cấu xuất nhập khẩu những tháng đầu năm cho thấy, VN vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung nước ngoài ở các nhóm nguyên liệu, linh kiện và tư liệu sản xuất. Đây cũng là những lĩnh vực cần được quan tâm khi rà soát hiệu quả sản xuất trong nước và nguy cơ chuyển giá tại các DN có giao dịch liên kết.

Số liệu của Cục Hải quan thống kê trong kỳ 1 tháng 7 cho thấy nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện có kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 12,36 tỉ USD, trong khi xuất khẩu chỉ bằng một nửa, khoảng 6,55 tỉ USD. Đây là ngành có chuỗi cung ứng xuyên biên giới rất sâu, đặc biệt ở khu vực DN FDI. Tương tự, nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu cao, nhưng xuất khẩu thấp là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng. Chỉ trong nửa đầu tháng 7, cả nước chi khoảng 3,19 tỉ USD để nhập khẩu máy móc, thiết bị...; lũy kế đến giữa tháng 7 đạt khoảng 37,57 tỉ USD. Việc nhập khẩu máy móc lớn một phần phản ánh nhu cầu đầu tư và mở rộng sản xuất, nhưng cũng cho thấy năng lực cung ứng thiết bị trong nước còn hạn chế.

Hay trong lĩnh vực nông sản, số liệu cập nhật hết tháng 7 cho thấy ngành điều chi hơn 3 tỉ USD nhập khẩu nguyên liệu với khoảng 1,81 triệu tấn trong khi xuất khẩu sản phẩm này đạt khoảng 2,9 tỉ USD với gần 374.000 tấn. Chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu khiến ngành điều ghi nhận tình trạng nhập siêu khoảng 300 - 400 triệu USD trong nửa đầu năm nay.

Song song, nhóm hàng dệt may, da giày cũng có một nghịch lý đáng chú ý. Hiện VN nằm trong nhóm xuất khẩu lớn trên thế giới nhưng vẫn phải nhập lượng lớn nguyên phụ liệu. Riêng nửa đầu tháng 7, nhập khẩu vải các loại đạt hơn 627 triệu USD, còn nguyên phụ liệu dệt may, da giày đạt hơn 302 triệu USD; lũy kế đến ngày 15.7 lần lượt khoảng 8,3 tỉ USD và 4 tỉ USD. Nhóm hàng sắt thép, kim loại, hóa chất và nhựa nguyên liệu cũng ghi nhận kim ngạch nhập khẩu cao hơn nhiều so với xuất khẩu.

Theo các chuyên gia kinh tế, nhìn tổng thể những con số trên không đồng nghĩa nhập khẩu lớn là bất thường. Bởi phần lớn hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất, nguyên liệu và linh kiện phục vụ chính quá trình sản xuất trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, với các DN có giao dịch liên kết, cần được rà soát sâu hơn, đặc biệt khi kim ngạch nhập khẩu lớn đi kèm biên lợi nhuận thấp, thua lỗ kéo dài hoặc phát sinh nhiều khoản thanh toán cho bên liên kết.

Ngăn chặn nguy cơ chuyển giá- Ảnh 2.

Rủi ro chuyển giá có thể xuất hiện từ doanh nghiệp FDI đến doanh nghiệp trong nước có hoạt động đầu tư và giao dịch xuyên biên giới

Ảnh: Tạo bằng AI

Vấn đề không chỉ là VN "nhập nhiều - xuất ít", mà quan trọng hơn là sau mỗi USD nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu, bao nhiêu giá trị được tạo ra và giữ lại tại VN. Đây mới là chỉ dấu đáng quan tâm khi đánh giá mức độ tự chủ của nền sản xuất cũng như nguy cơ dịch chuyển lợi nhuận qua các giao dịch liên kết.

PGS-TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và kinh tế quốc tế, cho rằng không phải cứ nhập khẩu lớn mà xuất khẩu ít là có vấn đề. Với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nhiều dự án đầu tư công khởi công, việc phải nhập một lượng lớn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, xây dựng... là điều dễ hiểu. Đặc biệt, nhu cầu mua nguyên liệu, linh kiện để chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất, chuẩn bị cho những tháng cuối năm để đáp ứng các đơn hàng giao cho thị trường Mỹ, châu Âu thì chênh lệch kim ngạch sớm là điều bình thường. Trong trường hợp cầu quốc tế tăng, DN thậm chí có thể chấp nhận nhập nguyên liệu với giá cao hơn để bảo đảm sản xuất, thay vì để thiếu nguyên liệu và không hoàn thành đơn hàng.

"Việc một số ngành có kim ngạch nhập khẩu lớn nhưng xuất khẩu thấp hơn nhiều có thể đặt ra nghi vấn về chuyển giá, nhưng không thể chỉ dựa vào chênh lệch nhập - xuất khẩu để kết luận. Chênh lệch lớn giữa nhập khẩu và xuất khẩu có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như chu kỳ sản xuất, giá nguyên liệu tăng, tỷ giá, chi phí logistics, chi phí lao động hoặc việc DN nhận thêm đơn hàng mới. Đây là những yếu tố cần được loại trừ trước khi đặt vấn đề chuyển giá", ông Lạng nhấn mạnh.

Phân loại kiểm tra, không dàn trải

Tuy nhiên, PGS-TS Nguyễn Thường Lạng thừa nhận nguy cơ chuyển giá là vấn đề cần được lưu ý, nhất là khi khu vực FDI chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch nhập khẩu. Rủi ro chuyển giá có thể phát sinh ngay từ việc xác định giá trong các giao dịch mua bán nội bộ giữa các DN cùng tập đoàn, nên việc phát hiện không đơn giản nếu cơ quan quản lý không có dữ liệu đầy đủ để đối chiếu với giá giao dịch độc lập.

Ngăn chặn nguy cơ chuyển giá- Ảnh 3.

Nên kiểm tra những nhóm hàng nhập khẩu lớn, xuất khẩu ít để tránh các rủi ro liên quan chuyển giá,gian lận thương mại...

ẢNH: ĐÀO NGỌC THẠCH

"Một khả năng cần được lưu ý là DN có thể mua hàng từ bên liên kết với mức giá cao, làm tăng chi phí và khiến lợi nhuận ghi nhận tại VN giảm, thậm chí thua lỗ. Tuy nhiên, đây mới chỉ là dấu hiệu để rà soát, chưa thể coi là bằng chứng của chuyển giá", vị chuyên gia lưu ý.

Ông Lạng khuyến nghị cơ quan quản lý bước đầu nên tập trung vào những nhóm hàng có giá tham chiếu hoặc giá thị trường tương đối rõ, chẳng hạn một số loại nhựa nguyên liệu, hóa chất, nguyên liệu sản xuất. Khi có dữ liệu về giá quốc tế hoặc giá giao dịch của các DN độc lập, cơ quan chức năng có thể so sánh để nhận diện những trường hợp có mức chênh lệch bất thường.

"Những mặt hàng có giá tham chiếu thì việc kiểm tra sẽ thuận lợi hơn. Có thể đặt câu hỏi tại sao cùng một loại nguyên liệu, trong cùng điều kiện thị trường, DN này nhập với mức giá như vậy, trong khi DN khác lại có mức giá khác. Từ đó mới có cơ sở khoa học để xem xét có dấu hiệu chuyển giá hay không", ông Lạng chia sẻ thêm.

Theo ông, chỉ đạo của Phó thủ tướng thường trực là điều cần thiết và phải làm nhưng nên phân loại rủi ro, thay vì kiểm tra dàn trải. Trước hết có thể tập trung vào DN FDI nhập khẩu lớn, nhập khẩu tăng đột biến, giao dịch chủ yếu với bên liên kết và đồng thời có tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc thua lỗ kéo dài. Với những ngành có thể xác định được giá tham chiếu, việc kiểm tra sẽ có cơ sở rõ hơn.

Luật sư Cao Đăng Duy, Công ty luật Rajah & Tann LCT, cũng đồng tình việc rà soát nhóm DN nhập khẩu lớn nhưng xuất khẩu thấp là hợp lý, vì đây có thể là nhóm có rủi ro về nhập siêu, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp hoặc có dấu hiệu bất thường trong chuỗi giao dịch. Tuy nhiên, tiêu chí này chỉ nên được xem là dấu hiệu sàng lọc ban đầu, không nên mặc định DN có nhập khẩu lớn, xuất khẩu thấp là chuyển giá. Điều quan trọng là phải đối chiếu thêm với hồ sơ giao dịch liên kết, tỷ suất lợi nhuận theo ngành, chức năng - tài sản - rủi ro của DN, mức độ phụ thuộc vào bên liên kết, chính sách giá nội bộ của tập đoàn và dòng tiền thực tế. Pháp luật VN hiện cũng đi theo hướng quản lý dựa trên bản chất giao dịch và nguyên tắc giao dịch độc lập, tức là không chỉ nhìn vào hợp đồng hay hình thức kế toán, mà phải xem giá trị kinh tế thực chất được tạo ra ở đâu và lợi nhuận được phân bổ có phù hợp hay không.

Ngăn chặn nguy cơ chuyển giá, trốn thuế...

Thực tế, vấn đề chuyển giá vẫn luôn nóng dù VN đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định để kiểm soát và ngăn chặn vấn đề này. Mới nhất vào cuối tháng 7 vừa qua, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an) đã ra quyết định khởi tố vụ án buôn lậu, vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, xảy ra tại Công ty cổ phần đầu tư y tế Việt Mỹ và các đơn vị liên quan. Các bị can đã thành lập, chỉ đạo, điều hành 3 công ty tại VN gồm Công ty cổ phần đầu tư y tế Việt Mỹ, Công ty TNHH đầu tư y tế Sao Kim, Công ty cổ phần dược phẩm Hoàng Mai. Đồng thời thành lập 5 công ty tại Singapore và 3 công ty tại Hồng Kông để mua đi bán lại, nâng giá thiết bị y tế, thuốc tân dược trước khi nhập khẩu về VN bán vào các đơn vị, cơ sở y tế với giá rất cao. Qua đó thu lời bất chính rất lớn và vừa gây thất thu cho ngân sách nhà nước, vừa ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người bệnh.

Theo Bộ Công an, thời gian qua hành vi chuyển giá, trốn thuế diễn biến phức tạp, không chỉ xảy ra tại các DN có vốn đầu tư nước ngoài, mà còn xảy ra tại các DN VN. Thông qua hình thức thành lập các pháp nhân ở nước ngoài, hành vi này gây thất thu đặc biệt lớn cho ngân sách nhà nước, làm méo mó môi trường cạnh tranh và kìm hãm phát triển kinh tế bền vững.

Luật sư Cao Đăng Duy nhận định vấn đề chuyển giá là một rủi ro mang tính cấu trúc trong nền kinh tế có độ mở cao, nhiều giao dịch xuyên biên giới và nhiều DN thuộc tập đoàn đa quốc gia. Khi DN tại VN mua nguyên liệu, máy móc, dịch vụ quản lý, bản quyền, lãi vay hoặc các dịch vụ nội bộ từ bên liên kết ở nước ngoài, lợi nhuận có thể bị điều chỉnh thông qua giá mua, phí dịch vụ, chi phí tài chính hoặc phân bổ lợi nhuận trong chuỗi giá trị. Pháp luật VN đã điều chỉnh khá rộng các giao dịch liên kết, bao gồm mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, vay, cho vay, dịch vụ tài chính, chuyển giao tài sản hữu hình/vô hình và chia sẻ chi phí giữa các bên liên kết.

Để hạn chế chuyển giá và giảm rủi ro cho thương mại, thu ngân sách, trước hết cần tiếp tục tăng cường quản lý rủi ro theo dữ liệu, thay vì thanh tra dàn trải. Cơ quan thuế nên tập trung vào các DN có dấu hiệu như lỗ nhiều năm nhưng vẫn mở rộng kinh doanh, DN có doanh thu tăng nhưng lợi nhuận thấp bất thường, chi phí dịch vụ/bản quyền/lãi vay liên kết lớn, nhập khẩu từ bên liên kết với giá cao, hoặc tỷ suất lợi nhuận thấp hơn đáng kể so với DN độc lập cùng ngành.

Thứ hai, cần liên thông dữ liệu giữa thuế, hải quan, ngân hàng, đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý đầu tư. Với DN có hoạt động nhập khẩu lớn, dữ liệu hải quan về giá nhập khẩu, mã HS, nhà cung cấp, thị trường nhập khẩu cần được kết nối với dữ liệu thuế về doanh thu, lợi nhuận, chi phí liên kết và dòng tiền thanh toán ra nước ngoài. Đây là điểm rất quan trọng, vì chuyển giá thường chỉ lộ rõ khi nhìn tổng thể cả chuỗi nhập khẩu - sản xuất - bán hàng - thanh toán.

Thứ ba, cần nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu so sánh theo ngành. Trong tranh chấp chuyển giá, vấn đề khó nhất thường không phải là có quy định hay không, mà là xác định mức giá hoặc tỷ suất lợi nhuận độc lập phù hợp. Nếu cơ quan thuế và DN không có dữ liệu so sánh đáng tin cậy, việc ấn định hoặc điều chỉnh thuế dễ dẫn đến tranh chấp.

Thứ tư, cần khuyến khích và sử dụng hiệu quả hơn cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế, tức APA, đối với các DN có giao dịch liên kết lớn, ổn định và phức tạp. APA giúp giảm tranh chấp sau này vì DN và cơ quan thuế thống nhất trước phương pháp xác định giá giao dịch liên kết. 

Phải có dữ liệu và phương án so sánh phù hợp

Trong điều kiện giá nguyên liệu, chi phí lao động, logistics đều có thể tăng, cần tách từng yếu tố để xem phần biến động nào là hợp lý và phần nào có dấu hiệu bất thường. Khi có những dấu hiệu đủ rõ thì mới đặt vấn đề chuyển giá. Phải có dữ liệu và phương án so sánh phù hợp. Phải có một quy trình kiểm tra, đối chiếu dữ liệu đủ khoa học và khách quan, trong đó có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý liên quan. Với những trường hợp phức tạp, việc tham gia của các tổ chức độc lập có chuyên môn quốc tế cũng có thể giúp tăng tính khách quan của quá trình đánh giá.

PGS-TS Nguyễn Thường Lạng

Cảnh báo về DN thua lỗ nhiều năm, lãi mỏng

Mới đây, Cục Thuế (Bộ Tài chính) đã có thư ngỏ gửi Hiệp hội Kế toán và kiểm toán VN, các công ty kế toán, kiểm toán... liên quan vấn đề ngăn ngừa rủi ro của DN. Theo Cục Thuế, qua rà soát, phân tích dữ liệu quản lý thuế, cơ quan thuế nhận thấy vẫn còn một bộ phận DN kê khai thua lỗ kéo dài nhiều năm, chuyển giá, báo cáo lãi mỏng hoặc tỷ suất lợi nhuận thấp hơn nhiều so với mức trung bình ngành, tiềm ẩn rủi ro trong việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.