Tại Hà Nội, công an vừa khởi tố, bắt tạm giam Bàn Thị Tâm (20 tuổi) và nhân tình là Nguyễn Minh Hiệp (22 tuổi) về tội giết người, với cáo buộc bỏ đói, đánh đập con gái 4 tuổi của Tâm đến tử vong.
Vụ việc tương tự xảy ra ở TP.HCM, Nguyễn Thị Thanh Trúc (33 tuổi) cùng nhân tình là Danh Chơn (30 tuổi) bị điều tra về tội cố ý gây thương tích, do nhiều lần đánh đập dã man con trai 2 tuổi của Trúc, khiến cháu nhập viện nguy kịch. Còn tại Phú Thọ, công an cũng vừa bắt giam Nguyễn Hà Chung (38 tuổi) vì dùng dây sạc điện thoại đánh con trai 7 tuổi thương tích 36% trong lúc dạy con học bài.

minh họa: DAD
Những vụ bạo hành trẻ em nối tiếp nhau xảy ra, khiến dư luận đặt ra câu hỏi nhức nhối: Vì sao trẻ em vẫn chưa được an toàn ngay trong mái ấm của mình?
NGUỒN CƠN TỘI ÁC
Ông Tạ Văn Hạ, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội, cho rằng bất kỳ hành vi bạo lực nào với trẻ cũng không thể chấp nhận, nhất là việc đánh đập, hành hạ dẫn đến thương tích nặng nề hoặc tước đoạt mạng sống. Điều đáng lên án hơn là trẻ bị bạo hành ngay tại tổ ấm gia đình - môi trường lẽ ra phải an toàn nhất; người gây ra bạo hành lại chính là cha, mẹ - lẽ ra phải yêu thương, che chở nhất.
"Một người mẹ ra tay tàn độc với đứa trẻ mình sinh ra, rõ ràng không chỉ là vi phạm pháp luật mà còn cho thấy sự xuống cấp đáng báo động về đạo đức và trách nhiệm gia đình", ông Tạ Văn Hạ nói.
Theo ông Hạ, một bộ phận gia đình vẫn tồn tại quan niệm sai lệch rằng đòn roi là cách dạy con hiệu quả. Áp lực kinh tế, mâu thuẫn hôn nhân, lệ thuộc chất kích thích hay lối sống buông thả khiến nhiều người mất kiểm soát rồi trút bạo lực lên trẻ. Cạnh đó, việc phát hiện và can thiệp từ sớm vẫn còn nhiều khoảng trống. Nhiều nơi, cơ chế bảo vệ trẻ em còn mang tính hình thức; lực lượng làm công tác trẻ em mỏng, thiếu kỹ năng và điều kiện hoạt động.
Ở góc nhìn tâm lý, tiến sĩ Đào Trung Hiếu, chuyên gia nghiên cứu tội phạm học, nhận thấy phần lớn người bạo hành trẻ em có chung đặc điểm là lệch lạc nhân cách, ích kỷ cực đoan, coi trọng lợi ích cá nhân và có xu hướng sử dụng bạo lực để giải tỏa tâm lý. Nhiều vụ việc xảy ra khi gia đình đổ vỡ, nơi đứa trẻ trở thành "người thừa" trong cuộc sống mới của cha hoặc mẹ. Sống cùng cha dượng, mẹ kế hay người tình của cha mẹ, các em rất dễ trở thành nạn nhân của sự lạnh lùng, ghét bỏ.
Tiến sĩ Đào Trung Hiếu cũng chỉ ra rằng, có những người coi con riêng của bạn đời là cái gai trong mắt. Hoặc ngay chính cha mẹ ruột lại tồn tại suy nghĩ đứa con là gánh nặng, nhắc họ nhớ về những buồn thảm với "mảnh ghép" cuộc đời cũ, khiến họ không ngăn cản, thậm chí là đồng tình hành động bạo lực.
Còn theo ông Đặng Hoa Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trẻ em, Phó chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em VN, luật Trẻ em quy định mỗi xã phải có người phụ trách công tác bảo vệ trẻ em. Nghị định 56/2017 cũng quy định rõ trách nhiệm phòng ngừa, phát hiện và can thiệp sớm khi trẻ có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại. Tinh thần là phải bảo vệ trẻ từ sớm, chứ không đợi đến khi các em bị tổn thương nặng rồi mới xử lý. Nhưng thực tế phần lớn cán bộ phụ trách công tác bảo vệ trẻ em ở cấp xã đều kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực như giảm nghèo, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn… nên khó theo dõi sát sao.
ĐỂ TRẺ KHÔNG CÒN CHỊU ĐÒN ROI
Không phải mọi loại tội phạm đều có thể phòng ngừa chỉ bằng nỗi sợ hình phạt. Điều quan trọng nhất trong công tác bảo vệ trẻ em, theo ông Tạ Văn Hạ, là phòng ngừa từ sớm, bởi khi hậu quả đã xảy ra thì những tổn thương về thể chất, tinh thần đối với trẻ rất khó bù đắp.
Muốn vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp, mà trước hết là thay đổi nhận thức xã hội về quyền trẻ em và phương pháp giáo dục không bạo lực. "Phải chấm dứt suy nghĩ coi đánh đập là dạy dỗ. Gia đình cần được trang bị kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng kiểm soát cảm xúc và ứng xử tích cực với trẻ", ông Hạ nói.
Tiến sĩ Đào Trung Hiếu cũng cho rằng hình phạt nghiêm khắc là cần thiết để bảo đảm công lý và răn đe xã hội, nhưng hình phạt chỉ đến sau khi bi kịch đã xảy ra. Để bảo vệ trẻ em, điều quan trọng hơn là không để các em phải đơn độc trong chính ngôi nhà của mình. Xã hội cần chuyển từ tư duy xử lý hậu quả sang bảo vệ chủ động.
Ông Hiếu khuyến nghị "nhìn sâu hơn" vào các vụ án hình sự về bạo hành thời gian qua, nơi những đứa trẻ đều ở hoàn cảnh là nạn nhân trực tiếp, đầu tiên của các cuộc hôn nhân tan vỡ. Bởi vậy, việc quan trọng là phải khôi phục lại truyền thống văn hóa gia đình VN: ông bà, cha mẹ nêu gương, con cháu thảo hiền. Làm sao để gia đình đứng vững trước nguy cơ có tên "ly hôn", chỉ khi gia đình bền vững mới vơi đi những cái chết tức tưởi.
Cạnh đó, không ít trường hợp dễ nóng giận, những hành vi rất bình thường của trẻ như khóc, ăn chậm, nghịch ngợm hoặc không nghe lời… đều có thể biến thành lý do trút đòn roi. Hoặc một số người lệch lạc về "quyền lực gia đình", xem trẻ như đối tượng thuộc quyền sở hữu của mình để tùy ý áp đặt, quát mắng, đánh phạt. "Cần chấm dứt ngay tâm lý này", ông Hiếu nói.
Góp ý thêm, luật sư Đặng Văn Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Bảo vệ quyền trẻ em VN, đề nghị cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm đến những gia đình có nguy cơ cao như thường xuyên xảy ra bạo lực, mâu thuẫn kéo dài hoặc có trẻ sống cùng cha dượng, mẹ kế có tiền án, tiền sự hay lối sống phức tạp. Nếu phát hiện môi trường sống không an toàn cho trẻ, chính quyền địa phương cần sớm có biện pháp hỗ trợ, giám sát hoặc can thiệp để ngăn ngừa nguy cơ xâm hại.
CẦN SỰ CHUNG TAY CỦA CỘNG ĐỒNG
Một thực tế đáng buồn là trong nhiều vụ bạo hành trẻ em, nạn nhân đã phải chịu đựng đòn roi suốt thời gian dài trước khi vụ việc bị phát hiện. Tiến sĩ Đào Trung Hiếu đặt câu hỏi: "Tại sao không ai biết cho đến khi những sinh mệnh non nớt ấy rời khỏi cuộc đời?".
Ông cho rằng việc nhận ra một đứa trẻ bị bạo hành không quá khó. Tiếng khóc, tiếng quát tháo, những vết bầm tím trên cơ thể hay sự thay đổi bất thường về tâm lý đều là những dấu hiệu rất rõ ràng. Không ít vụ án, bên cạnh kẻ trực tiếp gây ra tội ác thì sự thờ ơ của người xung quanh cũng là nguyên nhân khiến nỗi đau của trẻ kéo dài. Do đó, ông Hiếu kiến nghị tăng trách nhiệm phát hiện, thông báo và xử lý của cộng đồng. Người dân khi nghe, thấy dấu hiệu trẻ bị bạo hành không nên im lặng. Nhà trường cần quan sát kỹ hơn những thay đổi bất thường của học sinh. Cơ sở y tế khi tiếp nhận trẻ có dấu hiệu nghi vấn phải có kênh báo tin nhanh. Chính quyền cơ sở và công an địa phương cần phản ứng kịp thời khi có thông tin cảnh báo.
Cùng quan điểm, ông Tạ Văn Hạ nhận định cần xây dựng cơ chế phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Chính quyền cơ sở, công an khu vực, tổ dân phố, trường học và cơ sở y tế phải chủ động nắm tình hình các gia đình có nguy cơ cao như bạo lực gia đình, nghiện rượu, mâu thuẫn kéo dài hoặc trẻ sống trong hoàn cảnh đặc biệt. "Không thể để trẻ em kêu cứu trong im lặng mà không ai biết, không ai can thiệp", ông nói.
Đồng thời, theo ông, cần làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan, nhất là người đứng đầu địa phương, khi để xảy ra tình trạng trẻ bị bạo hành kéo dài nhưng không được phát hiện, xử lý. "Bảo vệ trẻ em không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu hay những lời kêu gọi chung chung. Mọi hành vi bạo lực phải được phát hiện từ sớm, xử lý nghiêm minh và không có sự thờ ơ", ông khẳng định.
Ông Đặng Hoa Nam lưu ý, luật Trẻ em đã quy định rõ hệ thống tiếp nhận thông tin tố giác về bạo hành trẻ em gồm công an các cấp, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và đặc biệt là Tổng đài quốc gia 111. "Người dân chỉ cần gọi điện, tổng đài sẽ kết nối các lực lượng để hỗ trợ can thiệp, giải cứu trẻ nếu cần", ông nói và khuyến nghị phải làm tốt công tác truyền thông để người dân biết đến các kênh tiếp nhận thông tin, hiểu rằng khi họ lên tiếng thì thông tin sẽ được tiếp nhận và xử lý nghiêm túc.
Bình luận (0)