Nghe anh Hiệu hát bài chòi

18/02/2026 14:00 GMT+7

Trong đời sống văn hóa của người miền Trung mỗi dịp tết đến không thể thiếu bài chòi. Nhưng đi xem bài chòi, chủ yếu vẫn là để nghe anh Hiệu diễn trò trong lúc hát. Những trận cười sảng khoái, nghiêng ngả của người xem được bắt đầu từ anh Hiệu.

Trong hội bài chòi, anh Hiệu là người dẫn dắt cuộc chơi bằng đủ trò gây cười, trong đó có câu thai, tức câu đọc lên thì người chơi biết đó là con bài tên gì. Câu thai có khi chân phương nhưng cũng lắm câu hài hước, hóm hỉnh, người xem không thể nhịn được cười.

Nghe anh Hiệu hát bài chòi - Ảnh 1.

Hội bài chòi ngày tết ở Phù Mỹ, Bình Định cũ

Ảnh: Đào Tiến Đạt

Xuất thân của những anh Hiệu

Ở vùng Nam Trung bộ có câu ca dao rất ám ảnh: "Rủ nhau đi đánh bài chòi/Để cho con khóc đến lòi rún ra". Riêng ở Bình Định (cũ) thì: "Tết về nhàn rỗi phải chơi/Bài chòi mộ điệu nơi nơi chào mừng/Kẻ kêu người hú tưng bừng/Nghe tiếng trống giục tay bồng con thơ/Mặc cho đụng bụi đụng bờ/Để coi năm mới anh Hiệu hô câu gì".

Các bà mẹ trẻ, người thì để con khóc đến "lòi rún ra", người thì bất chấp "đụng bụi đụng bờ", miễn sao chạy nhanh nhất có thể để kịp giờ khai hội. Những bà mẹ trẻ này không phải ham mê cờ bạc mà là họ muốn được đắm mình vào cái không khí của hội bài chòi, nói trắng ra là mê… anh Hiệu hát và diễn trò. "Để coi năm mới anh Hiệu hô câu gì". Câu mà anh Hiệu hô trong hội bài chòi ấy có một sức hút ghê gớm là thế. Anh Hiệu đến từ đâu mà quyến rũ cả gái có chồng đang tay bồng tay bế vậy?

Ngày xưa, các "nam thanh nữ tú" vùng nông thôn hay hát đối đáp trong những đêm trăng thanh gió mát. Họ hát trong lúc giã gạo hoặc trong những buổi gánh đất đắp nền nhà cho ai đó trong làng. Nếu chỉ lao động đơn thuần là gánh đất hoặc giã gạo thì sẽ chóng chán nên người ta mới bày trò hát hố, hát đối đáp. Những câu ca dao, tục ngữ hay nhất, được trao truyền qua nhiều đời cũng được bắt đầu từ những buổi "lao động kèm theo hát hò" này.

Nghe anh Hiệu hát bài chòi - Ảnh 2.

Anh Hiệu (bìa phải) trong hội bài chòi

Ảnh: Trần Đăng

Trong đám hát hố, hát đối đáp vào những buổi lao động ấy, thế nào cũng xuất hiện một người có biệt tài. Đó là những người ứng tác nhanh, đối đáp thông minh và phải phù hợp với hoàn cảnh mà bên "thách" đưa ra. "Con chim phượng hoàng bay ngang lều chợ/Em hỏi anh rày có vợ đâu chưa/Tay cầm tờ giấy che mưa/Che sao khỏi ướt em thưa chưa chồng". Cô gái đưa ra câu đối nhưng thừa biết chàng trai trong đám hát không thể trả lời được vì làm sao có mỗi tờ giấy mà che được cơn mưa cho khỏi ướt? Còn đây thì anh nam lại thắng. Nữ hát: "Thân em như trái mãng cầu/Để trên bàn Phật rồng chầu lọng che". Nam đáp: "Thân anh như thể con dơi/Bay lên đớp xuống giỡn chơi trái mãng cầu". Cứ thế, họ đối đáp cả đêm, có khi quên cả việc chính là lèn nền nhà hoặc giã gạo vào mỗi đêm trăng.

Những anh Hiệu sẽ dần lộ diện trong các cuộc hát đối đáp như thế và rồi anh chiếm lĩnh không gian, thời gian trong các hội bài chòi.

Anh Hiệu lắm tài

Ngoài việc đối đáp nhanh, sát hợp với hoàn cảnh câu hát của "đối phương" đưa ra, anh Hiệu còn phải biết ứng khẩu để cho ra những câu thơ ở nhiều thể thơ chuẩn mực, đúng vần thì mới hấp dẫn người nghe. Tính hấp dẫn của cuộc chơi là ở chỗ này. Anh ba hoa, khoác lác liên hồi kỳ trận hàng giờ nhưng nếu những câu ấy không thành vần, thành điệu thì sức nặng của cuộc chơi sẽ giảm rất nhiều. Còn nếu tất cả những câu anh "diễn" trong hội ấy mà thành vần, theo thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể, thậm chí thơ 5 chữ mà dí dỏm, hóm hỉnh thì cuộc vui sẽ bất tận. Người chơi sẽ "thưởng" cho anh Hiệu những tràng pháo tay không dứt. Điều này không phải ai cũng có thể làm được, kể cả những nhà thơ tài danh cũng chịu.

Nghe anh Hiệu hát bài chòi - Ảnh 3.

Liên hoan nghệ thuật bài chòi dân gian miền Trung

Ảnh: Đào Tiến Đạt

Anh Hiệu vừa là người nhuần nhuyễn các thể loại thơ ca, phải thuộc nhiều câu tục ngữ lại vừa phải cập nhật tình hình nóng hổi để hát những câu thai vừa đúng con bài nhưng cũng sát với chuyện đã và đang diễn ra ở quê mình. Anh ta dẫn dắt câu chuyện đến tên con bài vừa rút trúng bằng những câu thơ có vần và mộc mạc nhưng ở đó ẩn chứa bao nhiêu lẽ đời, bao nhiêu bài học về đạo đức làm người. Bởi vậy, những câu mà anh Hiệu trình diễn trong hội không chỉ là những câu nói thông thường để mua vui chốc lát mà nhiều câu khiến người nghe phải ngẫm ngợi. Tính hấp dẫn, mê dụ từ anh Hiệu trong hội bài chòi chính là chỗ này.

Sự uyển chuyển của những câu thai

Mỗi con bài trong hội bài chòi mà anh Hiệu hô lên, ứng với một hoặc nhiều câu thai. Điều này khác với bài chòi buổi sơ khai. Thời bài chòi còn sơ khai ấy, hễ bốc trúng con bài nào thì chỉ hô ngắn gọn, đúng tên con bài ấy. Thí dụ con tứ cẳng thì anh chỉ hô: "Đây là con tứ cẳng". Ai có con tứ cẳng ở các chòi thì giơ lên. Cuộc chơi sẽ rất nhàm chán nếu chỉ dừng lại ở việc hô tên con bài như thế. Anh Hiệu buộc phải lấy trong ca dao tục ngữ hoặc sáng tác ra các câu vè, câu thơ tương ứng với tên con bài để tăng phần hồi hộp cho người chơi. Chẳng hạn đây là câu thai tương ứng với con nhứt trò:

"Không ngon thì cũng bánh ít lá gai

Dù anh có dại cũng trai học trò".

Trong hai câu trên, có chữ "trò", tương ứng với con bài có tên "nhứt trò".

Hoặc con bát bồng:

"Em ơi! chầu rày đã có trăng non

Để anh lên xuống có con em ẵm bồng".

Hai câu này có chữ "bồng", tương ứng với con "bát bồng". Nhưng cái tài của anh Hiệu, có thể làm cho nhiều người "vỡ òa" vui sướng chính là cách "tán gái" quá siêu của anh ta. Không lan man vòng vo, anh ta nói thẳng luôn thời điểm "trăng non" cho bên kia biết là anh ta đi đêm không sợ … ma, không sợ vấp ngã vì tối trời nữa. Táo bạo hơn, anh ta còn có thể "tặng" cho đứa con nữa đấy! Những tràng pháo tay tán thưởng của người chơi hội bài chòi luôn luôn rộn rã cũng nhờ những câu thông minh, hóm hỉnh như thế.

Không chỉ hát những câu thai có dính đến tên con bài, anh Hiệu tiến thêm một nấc, nhuốm màu "tượng trưng":

"Tối qua tui đi ra gò

Thấy anh thương chị bốn cái giò tréo ngoe" (con "tứ cẳng").

Câu thai trên có cụm từ "bốn cái giò tréo ngoe", hoàn toàn không có chữ "cẳng" và chữ "tứ"nhưng người chơi vẫn hiểu đó là con "tứ cẳng", vì suy ra bốn cái giò tức bốn cái cẳng - tứ cẳng. Sự uyển chuyển này cũng là một bước tiến của anh Hiệu khi dẫn dắt cuộc chơi, các nhà văn ngôn tình cũng không sánh kịp.

Cũng như nhiều loại hình nghệ thuật khác, bài chòi cũng phải tự làm mới mình để phù hợp với hoàn cảnh. Chẳng hạn tại các buổi liên hoan được nhiều tỉnh tổ chức, bài chòi có kịch bản hẳn hoi, ở đó đôi lúc chỉ có hát chứ không chơi bài. Anh Hiệu cũng không có đất để diễn trò như trong các sân đình làng ngày trước nữa mà có khi anh phải đứng bên cánh gà của cuộc chơi.

Ngày nay, dù có nhiều lựa chọn để vui chơi trong ba ngày tết, nhưng bài chòi chưa bao giờ vắng bóng người chơi. Trong đó, anh Hiệu vẫn khắc sâu trong tâm khảm của bao lớp người. Với họ, anh Hiệu chân đất luôn thức cùng họ trong các sân đình làng ngày tết.

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.