Nghề nuôi bệnh: Đừng đào tạo theo kiểu 'cưỡi ngựa xem hoa'

Hoài Nhiên
Hoài Nhiên
31/01/2026 04:00 GMT+7

Để nghề nuôi bệnh được chính thức hóa, được nhà nước và pháp luật công nhận, quản lý bài bản trong môi trường y tế, thì việc đào tạo phải thực chất, không được qua loa.

Thực tế tại một số trung tâm đào tạo cho thấy người nuôi bệnh chỉ được học trong thời gian rất ngắn trước khi đi làm. Cách đào tạo theo kiểu "cưỡi ngựa xem hoa" này đang dấy lên nhiều lo ngại.

KHÔNG ĐƠN THUẦN "TRÔNG COI NGƯỜI BỆNH"

"Chưa kịp nhớ hết mặt, hết tên mấy người học chung thì khóa học đã kết thúc", anh T. (40 tuổi), học viên tại một trung tâm cung ứng người nuôi bệnh ở TP.HCM, nửa đùa nửa thật khi nhắc về quãng thời gian đi học nghề nuôi bệnh chuyên nghiệp.

 - Ảnh 1.

Nghề nuôi bệnh chuyên nghiệp đòi hỏi chăm sóc viên phải nắm được kiến thức, kỹ năng chăm sóc bệnh nhân

ẢNH: HOÀI NHIÊN

Anh T. kể toàn bộ khóa học chỉ kéo dài khoảng 40 giờ. Lịch học dồn dập từ sáng tới chiều, kiến thức trải rộng nhưng thời gian học quá ngắn. "Nhớ được khái niệm là mừng rồi, chứ để làm cho quen tay thì chưa", anh T. nói.

Đa số học viên tham gia lớp học ở độ tuổi từ 40 - 65 và xuất phát từ lao động phổ thông. Lần đầu ngồi trong lớp học nghề, nghe giảng về sơ cấp cứu, theo dõi dấu hiệu sinh tồn, chăm sóc người bệnh mở khí quản, mang hậu môn nhân tạo, thở ô xy…, nhiều người cảm thấy choáng.

Anh T. cho hay sau khóa học, đa số học viên lớn tuổi chỉ nắm được khoảng 40 - 50% kiến thức. Phần còn lại phải trông chờ vào quá trình "đi ca" thực tế, vừa làm vừa học hỏi kinh nghiệm. "Ra đi ca rồi mới học thêm", anh T. chia sẻ.

Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM, tổng thời lượng đào tạo khoảng 40 giờ chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu, không thể tạo ra một chăm sóc viên (người nuôi bệnh chuyên nghiệp). Ông Tuấn cho rằng nghề nuôi bệnh không đơn thuần "trông coi người bệnh", mà là một dịch vụ chăm sóc có yếu tố chuyên môn, liên quan đến sự an toàn của người bệnh, tâm lý người bệnh và khả năng phối hợp với nhân viên y tế. "Thời lượng đào tạo quá ngắn dễ khiến chương trình học thiên về lý thuyết, thiếu thực hành tình huống. Người học không có đủ thời gian để hình thành kỹ năng chuẩn xác, phản xạ nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm khi chăm sóc người bệnh", ông Tuấn phân tích.

Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM đề xuất nâng thời lượng đào tạo chăm sóc viên lên 150 - 300 giờ theo chuẩn kỹ năng quốc gia, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, tăng mức độ an toàn cho người bệnh, giảm gánh nặng cho gia đình và ngành y tế trong bối cảnh già hóa dân số.

Bên cạnh đó, ông Tuấn chỉ ra việc nhiều cơ sở đào tạo người nuôi bệnh hiện chưa quy định chuẩn đầu vào cụ thể, chỉ yêu cầu học viên biết đọc, biết viết là thực tế đáng lo ngại.

Ông Tuấn khuyến nghị chuẩn đầu vào cần được nghiên cứu, quy định phù hợp, trong đó người học tối thiểu phải có trình độ văn hóa từ trung học cơ sở hoặc tương đương, đủ sức khỏe, năng lực giao tiếp và thái độ nghề rõ ràng, cùng lý lịch minh bạch, ý thức đạo đức nghề nghiệp.

Theo ông, việc áp dụng chuẩn đầu vào cao hơn và kiểm định nghiêm ngặt có thể làm giảm số lượng người học trong giai đoạn đầu, nhưng là điều cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo nền tảng để nghề nuôi bệnh được xã hội công nhận chính thức.

Cần nâng thời lượng đào tạo chăm sóc viên lên 150 - 300 giờ theo chuẩn kỹ năng quốc gia, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, tăng mức độ an toàn cho người bệnh, giảm gánh nặng cho gia đình và ngành y tế trong bối cảnh già hóa dân số.


Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM

CHUẨN HÓA: XU THẾ TẤT YẾU

Ông Nguyễn Khắc Tuấn, Trưởng phòng Công tác xã hội Bệnh viện Nguyễn Trãi, đánh giá: Nếu lực lượng nuôi bệnh được đào tạo và quản lý bài bản, họ sẽ trở thành "cánh tay" hỗ trợ hiệu quả cho điều dưỡng, góp phần giảm tải công việc, đồng thời nâng cao an toàn và mức độ hài lòng của người bệnh.

 - Ảnh 2.

Người nuôi bệnh chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện

ẢNH: HOÀI NHIÊN

Từ thực tế đó, ông Khắc Tuấn đề xuất Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện (phiên bản 2.0) cần bổ sung các tiêu chí liên quan đến hoạt động nuôi bệnh chuyên nghiệp. Khi được đưa vào hệ thống tiêu chí chính thức, việc quản lý người nuôi bệnh sẽ không chỉ dừng ở quan hệ dịch vụ giữa gia đình và người chăm sóc, mà trở thành một phần trong đánh giá chất lượng bệnh viện, gắn với an toàn chăm sóc, an ninh trật tự và quản lý người lưu trú trong môi trường điều trị.

Ông Trần Anh Tuấn nhận định việc chính thức hóa nghề nuôi bệnh cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, dựa trên những chuẩn mực nền tảng rõ ràng.

Hiện nay, nghề nuôi bệnh vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc gia; chưa xác định cụ thể ai được hành nghề, đào tạo bao lâu, học những nội dung gì, cũng như cách kiểm tra, cấp chứng chỉ.

Ông Tuấn nhìn nhận "nút thắt" lớn nhất hiện nay nằm ở mô hình quản lý. Từ thực tiễn, ông gợi mở hai hướng tiếp cận trong quá trình xây dựng chính sách.

Thứ nhất, đưa lực lượng nuôi bệnh vào hệ thống y tế, chịu đào tạo, giám sát chuyên môn và đánh giá chất lượng chặt chẽ. Cách làm này giúp bảo đảm an toàn người bệnh, nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn cao và chi phí quản lý lớn.

Thứ hai, người nuôi bệnh như lao động giúp việc gia đình, linh hoạt hơn nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro, do chất lượng chăm sóc khó kiểm soát."Nếu nghề nuôi bệnh tiếp tục vận hành theo mô hình lao động tự do trong môi trường bệnh viện, rủi ro y khoa và pháp lý sẽ ngày càng gia tăng", ông Tuấn cảnh báo.

Từ góc độ pháp luật, luật sư Lê Trung Phát, Giám đốc Hãng luật Lê Trung Phát (TP.HCM), phân tích rủi ro lớn nhất của nghề nuôi bệnh hiện nay nằm ở việc thiếu một cơ chế pháp lý bảo vệ rõ ràng. Do không được xếp vào nhóm hành nghề y tế, người nuôi bệnh không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Khám bệnh, chữa bệnh.

Đồng thời, do chủ yếu làm việc trên cơ sở thỏa thuận dân sự với gia đình người bệnh, lực lượng này cũng khó được áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật lao động, như hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp.

Trong khi đó, đây lại là nhóm lao động làm việc thường xuyên trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao, dễ xảy ra tai nạn trong quá trình chăm sóc. Khi phát sinh tranh chấp về tiền công hoặc sự cố liên quan đến người bệnh, người nuôi bệnh gần như không có căn cứ pháp lý rõ ràng để tự bảo vệ quyền lợi, còn trách nhiệm giữa các bên cũng rất khó xác định.

Theo luật sư Phát, để khắc phục khoảng trống này, cần ban hành văn bản pháp luật công nhận nghề nuôi bệnh là một nghề được đào tạo và cấp chứng chỉ. Đối với những bệnh lý đòi hỏi kiến thức chăm sóc đặc thù, chỉ những người có chứng chỉ phù hợp mới được hành nghề, trừ trường hợp người nhà tự chăm sóc. Song song đó là xây dựng bộ tiêu chuẩn đào tạo, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và cơ chế quản lý, xử lý vi phạm.

Khi nghề nuôi bệnh được chính thức hóa, người lao động sẽ có cơ sở để ký kết hợp đồng lao động rõ ràng, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp, được đào tạo bài bản và có lộ trình nghề nghiệp cụ thể.

"Đây không chỉ là câu chuyện quản lý một nghề, mà còn là bước đi cần thiết để bảo vệ quyền lợi của một nhóm lao động dễ bị tổn thương trong môi trường y tế tiềm ẩn nhiều rủi ro", luật sư Phát nhấn mạnh.

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.