Thật khó tin món đồ mỹ nghệ ấy được làm từ năm 1950, không chỉ là vẻ đẹp một sản phẩm thủ công mà còn là thời gian, thứ mà công nghệ hiện đại khó có thể tác thành.
Đi qua gần hai trăm hiện vật trong triển lãm Chu tất bình dân (sưu tập của Công ty sách Huyền Đức và Phạm Hoàng Quân) đang trưng bày ở Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ đến hết 4.10.2026, tôi liên tục bắt gặp những cảm giác tương tự. Một chiếc hộp trà, bình hoa, đĩa trang trí, bức bình phong, bàn ghế, hộp nữ trang, hay bộ tranh treo tường... được làm ra phục vụ đời sống thường ngày. Điều khiến tôi băn khoăn không phải là giá trị sưu tầm từng hiện vật, mà là câu hỏi: Vì sao những sản phẩm được chế tác cách đây năm, sáu chục năm vẫn toát lên khí chất của nghề; trong khi thị trường hôm nay hiếm gặp những sản phẩm cùng tinh thần ấy?

Bức sơn mài từ năm 1950 do Nguyễn Văn Hớn thực hiện
Ảnh: LAM PHONG
Đó cũng là những trăn trở đã theo Phạm Hoàng Quân suốt hơn mười năm qua. Nhắc đến anh, thường nghĩ ngay đến một nhà nghiên cứu cổ sử, thư tịch cổ, lịch sử Nam bộ… Sau những công trình nghiên cứu, anh còn đắm mình vào một hành trình rất khác, lặng lẽ, bền bỉ gom góp từng sản phẩm sơn mài mỹ nghệ được làm ở Thủ Dầu Một và Sài Gòn trong giai đoạn 1950 - 1990, nay đã tập hợp được hơn 140 tên hiệu của các xưởng và thợ nghề, đủ ghép lại bức tranh gần như toàn cảnh về sơn mài mỹ nghệ phương Nam giai đoạn rực rỡ nhất.
Khái niệm "bình dân" mở ra một góc nhìn khác về sơn mài, nơi vẻ đẹp không chỉ thuộc về tác phẩm danh họa mà còn hiện diện trong những vật dụng hằng ngày. Chính ở lớp mỹ nghệ ấy, người thợ gửi vào từng sản phẩm kỹ năng, kinh nghiệm và cả niềm tự hào nghề nghiệp của mình. Phạm Hoàng Quân cũng mang đến Chu tất bình dân những giá trị văn hóa đằng sau từng sản phẩm, đó là lễ giỗ tổ nghề sơn mài (13.6 âm lịch), là những buổi "hội thảo" để giới thiệu những người thợ nghề như Chín Minh (thợ sơn), Huyền Thanh (thợ cẩn ốc), họa sĩ Nguyễn Quang Sơn…; giúp các nhà nghiên cứu, nhà báo, người sưu tập hiểu thêm chuyện đời, chuyện nghề của những người đã gắn bó cả đời mình với sơn mài phương Nam.

Một nét đẹp khác về vịnh Hạ Long, do Lê Thành vẽ phủ màu, 1970
Ảnh: LAM PHONG
Nhìn vào bộ sưu tập, người xem có thể đọc được gần như đầy đủ vốn kỹ thuật nghề sơn mài phương Nam từng sở hữu. Bức tranh xưởng sơn mài Lam Sơn thực hiện những năm 1990 phô diễn lối cẩn trứng đỉnh cao của người thợ. Chỉ với hai gam đen và trắng, người thợ ghép hình ba thiếu nữ chơi đàn tỳ bà bên bộ ấm trà. Những mảnh trứng thô ráp sau chừng chục lần phủ sơn, mài và đánh bóng, chuyển sắc mềm mại đến ngỡ ngàng. Không còn là trắng đơn thuần, kỹ thuật xử lý vỏ trứng tạo cho bề mặt tranh hiện lên nhiều lớp sáng tối, khiến gương mặt, tà áo và bàn tay người trong tranh có chiều sâu và tinh thần rất Việt.
Những hiện vật trưng bày không chỉ cho thấy sự phong phú của kiểu dáng, mà còn chứng minh một trình độ kỹ thuật cao với sơn khắc, cẩn trứng, cẩn ốc, đắp nổi, cẩn phù điêu, thếp vàng, thếp bạc... gần như toàn bộ tinh hoa của nghề sơn đều hiện diện. Chu tất bình dân còn kể câu chuyện khác. Dựa trên thông tin nghiên cứu của Phạm Hoàng Quân, nghề sơn mài phương Nam từ những năm 1940 đã hình thành và phát triển rực rỡ; đến thập niên 1970, khoảng 70% sản phẩm sơn mài mỹ nghệ của Sài Gòn được xuất khẩu, chỉ 30% phục vụ thị trường trong nước. Điều đó cho thấy sơn mài phương Nam từng không chỉ là một nghề, mà còn là một ngành công nghiệp văn hóa mang tầm quốc tế.

Sơn mài cẩn trứng, xưởng Lam Sơn chế tác 1980
Ảnh: LAM PHONG
Vì sao những sản phẩm được làm cách đây năm, sáu chục năm vẫn khiến người xem hôm nay phải trầm trồ? Câu trả lời không nằm ở người thợ, mà là thị trường không đủ kiên nhẫn nuôi dưỡng tay nghề ấy. Phần lớn đơn đặt hàng chỉ yêu cầu nhanh hơn, rẻ hơn và dễ bán hơn. Khi giá thành trở thành tiêu chí quan trọng nhất, người làm nghề cắt bớt công đoạn, thay sơn ta bằng sơn công nghiệp, thay cốt gỗ tốt bằng vật liệu rẻ tiền. Một sản phẩm cần hàng chục lớp sơn, cần hàng tháng hoàn thiện, nay chỉ còn tính bằng ngày, bằng giờ. Kết quả là những món đồ đẹp khi mới xuất xưởng nhưng nhanh chóng xuống cấp, đánh mất phẩm chất căn bản nhất của nghề sơn: Độ bền!
Trong bức tranh có phần ảm đạm ấy, tồn tại một nghịch lý khác. Những xưởng sơn mài đủ năng lực vẫn liên tục nhận đơn hàng từ các thương hiệu quốc tế. Những yêu cầu khắt khe về độ bền, độ hoàn thiện hay kỹ thuật chế tác đều được đáp ứng nếu khách hàng chấp nhận đầu tư đúng mức. Điều đó chứng minh người thợ chưa hề mất nghề. Điều họ thiếu không phải kỹ năng, mà là một thị trường đủ hiểu giá trị của nghề và sẵn sàng trả đúng giá cho chất lượng.

Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân và các sản phẩm sơn mài bình dân Nam bộ
Ảnh: LAM PHONG
Vì thế, Chu tất bình dân không nằm ở sự hoài niệm. Phạm Hoàng Quân không dựng lại một thời vàng son để tiếc nuối quá khứ, mà muốn người xem nhìn thẳng vào bản chất của nghề sơn mài cùng cách ứng xử của cả người sản xuất lẫn tiêu dùng ở hiện tại. Sản phẩm sơn mài mỹ nghệ xưa, từng là món quà sang quý mua dành tặng bạn bè với tự hào hàng Việt, nhưng nay không còn là lựa chọn tối ưu, cũng bởi chất lượng và mẫu mã không tương thích nhu cầu thị trường. Điều cần phục hồi không chỉ là một làng nghề, mà còn là niềm tin những giá trị thủ công được tạo nên từ sơn ta, từ bàn tay người thợ và từ hàng trăm giờ lao động tỉ mỉ vẫn có chỗ đứng trong đời sống đương đại. Hy vọng Chu tất bình dân mở ra một chương mới, để sơn mài không chỉ được nhắc đến như một ký ức đẹp của quá khứ, mà còn trở thành một phần tương lai của nghề thủ công đậm bản sắc và văn hóa VN.

Bà Nguyễn Huyền Thanh giới thiệu các chi tiết trong kỹ thuật cẩn ốc lên tranh sơn mài
Ảnh: LAM PHONG

Triển lãm sơn mài mỹ nghệ đặt ra nhiều câu hỏi về nghề, và hướng đi cho tương lai
Ảnh: LAM PHONG

Bức bình phong đề tài hoa điểu, hợp với không gian kiến trúc
Ảnh: LAM PHONG

Thợ sơn mài, giới nghiên cứu, truyền thông, sử gia… nghe chia sẻ về sơn mài Nam Bộ
Ảnh: LAM PHONG

Họa sĩ Nguyễn Quang Sơn bên sản phẩm gia đình làm từ 1970
Ảnh: LAM PHONG

Kỹ thuật cẩn trứng, đề tài Vịnh Hạ Long của Sông Hồ, 1970
Ảnh: LAM PHONG
Bình luận (0)