Sở hữu 40 cửa hàng xăng dầu, có thực sự cần thiết?

Nguyên Nga
Nguyên Nga

Đề xuất doanh nghiệp đầu mối phải sở hữu 40 cửa hàng xăng dầu của Bộ Công thương đang gây nhiều tranh luận.

Không nên lấy làm thước đo năng lực

Góp ý dự thảo nghị định về kinh doanh xăng dầu, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) đề nghị không nâng yêu cầu sở hữu lên tối thiểu 40 cửa hàng bán lẻ đối với thương nhân đầu mối. Thay vào đó, cần đánh giá năng lực qua sản lượng cung ứng thực tế, mức tuân thủ dự trữ lưu thông và hợp đồng cung ứng dài hạn. Cụ thể, trong dự thảo lần thứ 14 Nghị định về kinh doanh xăng dầu, Bộ Công thương yêu cầu thương nhân đầu mối sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng bán lẻ và kho tiếp nhận có tổng sức chứa ít nhất 15.000 m³. Với thương nhân thuộc diện chuyển tiếp, điều kiện về cửa hàng được áp dụng theo lộ trình: tối thiểu 10 cửa hàng trong năm 2028 và 40 cửa hàng từ ngày 1.1.2029.

Sở hữu 40 cửa hàng xăng dầu, có thực sự cần thiết?- Ảnh 1.

Chuyên gia cho rằng cần quản lý bằng năng lực thực, không phải số cửa hàng sở hữu

Ảnh: Nhật Thịnh

Theo VCCI, quy định này tiếp tục đặt trọng tâm vào điều kiện đầu vào về sở hữu tài sản, chưa bám sát yêu cầu tại Thông báo số 488 của Văn phòng Chính phủ về việc không chỉ dựa vào các điều kiện đầu vào như kho chứa, cảng, phương tiện vận tải và hệ thống cửa hàng. Trong khi đó, năng lực bảo đảm nguồn cung đã được kiểm soát thông qua tổng nguồn tối thiểu và mức dự trữ lưu thông 20 ngày, còn dự thảo chưa làm rõ lợi ích quản lý tăng thêm của yêu cầu sở hữu 40 cửa hàng.

VCCI cho rằng quyền sở hữu tài sản không đồng nghĩa với năng lực cung ứng, và quy định nói trên có thể buộc doanh nghiệp phải dồn vốn vào tài sản cố định, làm tăng chi phí tuân thủ. Trong bối cảnh thị trường có mức độ tập trung cao, yêu cầu sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng còn có thể thúc đẩy các đầu mối mua lại cửa hàng độc lập để đạt ngưỡng, thu hẹp mạng lưới bán lẻ độc lập và ảnh hưởng cạnh tranh ở khâu cuối. Đáng chú ý, theo điều 25 dự thảo, thương nhân phải đăng ký tổng nguồn năm 2027 trước ngày 30.11.2026. Nếu nghị định chưa được ban hành kịp thời, doanh nghiệp có thể có rất ít thời gian chuẩn bị nguồn hàng, tài chính và hợp đồng để đáp ứng các ngưỡng mới.

Ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu VN, cũng đồng quan điểm với VCCI, vì theo quy định hiện hành, thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu phải có tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu hoặc sở hữu và đồng sở hữu của doanh nghiệp. Đồng thời, phải có tối thiểu 40 tổng đại lý hoặc đại lý bán lẻ xăng dầu trong hệ thống phân phối. Vì thế, yêu cầu nâng lên đến 40 cửa hàng thuộc sở hữu là không cần thiết bởi hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu của doanh nghiệp có thể bao gồm cả cửa hàng sở hữu, thuê dài hạn và nhượng quyền, miễn bảo đảm quy mô và tính ổn định của mạng lưới. "Nếu buộc doanh nghiệp sở hữu 40 cửa hàng, nhiều đơn vị sẽ phải chạy đua mua lại cửa hàng để đáp ứng điều kiện, chắc chắn sẽ làm phát sinh thêm chi phí và thủ tục mà chưa chắc cải thiện được năng lực cung ứng. Quan trọng nhất là năng lực cung ứng của thương nhân đầu mối, mà điều này đã được quy định tại nguồn dự trữ tối thiểu, nguồn dự trữ lưu thông...", ông Bùi Ngọc Bảo nhấn mạnh.

Phải bảo đảm nguồn cung thực chất

Ông Bùi Ngọc Bảo nhận định việc dự thảo điều chỉnh nâng yêu cầu số lượng cửa hàng thuộc sở hữu doanh nghiệp đầu mối lên mức 40 địa điểm khiến họ gặp khó khăn vì phải vội vã đi mua sắm mặt bằng để đáp ứng yêu cầu. Thế nên, trong các dự thảo trước, Hiệp hội Xăng dầu VN đã đưa ra kiến nghị số cửa hàng xăng dầu mà thương nhân đầu mối cần có là tối thiểu 50 cửa hàng trong hệ thống, bao gồm sở hữu, nhượng quyền, đi thuê lại... Trong đó, doanh nghiệp chỉ cần sở hữu 10 cửa hàng. Trước đây chỉ yêu cầu sở hữu 5 cửa hàng, còn lại là các hình thức đi thuê, nhượng quyền như đã đề cập. Ông Bảo nêu quan điểm: "Việc siết chặt tiêu chuẩn quá mức này được đánh giá là gây ra nhiều phức tạp không cần thiết và không giải quyết được bản chất vấn đề của hệ thống. Do đó, việc duy trì hạn mức sở hữu hợp lý là giải pháp tối ưu giúp doanh nghiệp tránh được áp lực tài chính và vận hành ổn định hơn".

Ở góc nhìn khác, chuyên gia thương mại, Th.S Nguyễn Lý Trường An (Trường ĐH Kinh tế Công nghiệp Long An) cho rằng bản chất của nghị định kinh doanh xăng dầu mới không chỉ là sửa đổi các điều kiện kinh doanh, mà quan trọng hơn là phải bảo đảm nguồn cung ổn định, tạo lập thị trường cạnh tranh thực chất và nâng cao hiệu quả quản lý. Do đó, điều đầu tiên cần làm rõ là trách nhiệm của từng chủ thể trong việc tạo nguồn, dự trữ và phân phối xăng dầu, nhất là trách nhiệm của thương nhân đầu mối khi thị trường biến động, nguồn cung gián đoạn. Theo ông, con số cửa hàng thuộc sở hữu được điều chỉnh tăng lên không nói lên điều gì và chưa rõ dựa trên tiêu chí nào. Một khi đã "thả nổi" giá xăng có nghĩa là doanh nghiệp phải tự sống với hiệu quả kinh doanh của mình. Ngoài ra, đề xuất chấp nhận kho, cửa hàng thuộc sở hữu, đồng sở hữu... cũng chưa hợp lý bởi có thể có sự không chính xác về số liệu cửa hàng xăng dầu. Một cửa hàng có thể được kê khai thuộc 2 (hoặc hơn) hệ thống của doanh nghiệp nếu 2 doanh nghiệp đồng sở hữu 1 cửa hàng.

Thứ 2, nghị định cần giúp tạo cạnh tranh thực chất, bảo đảm quyền chủ động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần được chủ động chọn nguồn hàng, tổ chức mạng lưới phân phối và quyết định giá theo cơ chế thị trường. Thứ 3, phải khắc phục tình trạng mua bán qua nhiều khâu nhưng không tạo thêm giá trị, khiến chi phí tăng và trách nhiệm về nguồn hàng thiếu rõ ràng. Thứ 4, đổi mới cơ chế giá, minh bạch chi phí và tăng trách nhiệm giải trình. Nếu trao quyền quyết định giá cho doanh nghiệp, nghị định phải quy định rõ nguyên tắc hình thành giá, nghĩa vụ kê khai, công khai và giải trình. Cơ quan quản lý cần có dữ liệu để giám sát, phát hiện dấu hiệu vi phạm cạnh tranh và can thiệp bình ổn khi cần thiết, thay vì chỉ chuyển quyền quyết định mà thiếu công cụ kiểm soát.

"Nghị định mới phải chú ý quản lý bằng năng lực thực tế, giảm điều kiện kinh doanh hình thức. Chẳng hạn, điều kiện cấp phép phải chứng minh được doanh nghiệp có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Với yêu cầu sở hữu 40 cửa hàng, cần làm rõ việc sở hữu thêm cửa hàng có thực sự giúp bảo đảm nguồn cung hay không. Điều quan trọng là doanh nghiệp có đủ năng lực tạo nguồn, dự trữ, duy trì mạng lưới phân phối và thực hiện đầy đủ cam kết cung ứng, chứ không đơn thuần là sở hữu bao nhiêu cửa hàng", ông Trường An nhấn mạnh.

Mỗi quy định trong nghị định cần được đánh giá trên cơ sở hiệu quả thực tế, rằng có góp phần bảo đảm an ninh nguồn cung, thúc đẩy cạnh tranh, giảm chi phí tuân thủ và giúp Nhà nước giám sát thị trường tốt hơn hay không. Đây mới là cơ sở để hoàn thiện chính sách, thay vì chỉ tăng hoặc giảm các điều kiện kinh doanh mang tính hình thức.

Th.S Nguyễn Lý Trường An, Trường ĐH Kinh tế Công nghiệp Long An

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.