Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh
Sau yêu cầu từ Chính phủ, BIDV là ngân hàng (NH) đầu tiên công bố giảm lãi suất tới 2%/năm so với mức lãi suất thông thường, cho vay từ 6%/năm tùy theo kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn. Lãi suất cho vay này áp dụng đối với các khoản vay ngắn hạn bằng VNĐ, tập trung vào các ngành, lĩnh vực phù hợp với định hướng ưu tiên của Chính phủ trên cơ sở đáp ứng các điều kiện của chương trình và quy định cấp tín dụng của BIDV. NH sẽ tạo điều kiện để khách hàng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nhất là ở giai đoạn cao điểm cuối năm 2026. Trước đó, trong phiên thảo luận tổ tại Quốc hội chiều 17.10 về dự thảo luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng cũng cam kết từ nay đến cuối năm giảm tối thiểu 2% lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp (DN).

Lãi suất cho vay dự kiến giảm từ 1,5 - 2%/năm trong thời gian tới
ẢNH: NGỌC THẮNG
Hôm qua, dù vào ngày cuối tuần, NHNN cũng ban hành công văn yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, giảm lãi suất cho vay khách hàng, trong đó tập trung giảm từ 1,5 - 2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Công văn yêu cầu các NH tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận, không chạy đua tăng lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh, gây bất ổn đến an ninh tài chính tiền tệ. NHNN cũng nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát tăng trưởng tín dụng an toàn, nâng cao chất lượng tín dụng, quản lý chặt nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống. Các NH vi phạm chỉ đạo về lãi suất có thể bị xem xét giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong phần còn lại của năm 2026, giao hạn mức thấp hơn trong năm 2027 hoặc áp dụng các tỷ lệ an toàn cao hơn quy định.
Hiện NHNN chưa công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 9 nhưng lãi suất cho vay công bố thời điểm tháng 8 ở mức cao. Lãi suất cho vay bình quân tiền đồng đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,4 - 10,7%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VNĐ đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm, bằng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm). Lãi suất USD bình quân đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 4,1 - 5,4%/năm. So với thời điểm cuối năm 2025, lãi suất cho vay bình quân tiền đồng tăng 1,7%/năm, còn lãi suất cho vay USD tăng 0,1 - 0,4%/năm.
Quan sát có thể thấy trong nhiều tháng trở lại đây, việc huy động vốn của hệ thống NH vẫn duy trì áp lực cao, nhất là vào thời điểm quý cuối cùng của năm. Dù tốc độ huy động vốn vào NH đã tăng nhanh hơn những tháng gần đây nhưng chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vẫn tiếp tục duy trì. Dư nợ tín dụng toàn hệ thống tính đến cuối tháng 9 tăng 11,6%, trong khi huy động vốn tăng 9,8% so với cuối năm 2025. Tính đến cuối tháng 9, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15% so với cuối năm 2025. Các NH huy động vốn với lãi suất duy trì ở mức cao kể từ kỳ hạn 6 tháng trở lên, dao động từ 7 - 9,6%/năm. Ngoài huy động qua kênh tiền gửi tiết kiệm, các nhà băng còn huy động vốn qua kênh trái phiếu với mức lãi suất cao, lên 9 - 10,5%/năm, tăng từ 2 - 3%/năm so với năm ngoái.
Lãi vay có thể phân hóa giữa các nhóm khách hàng
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc đầu tư Công ty chứng khoán An Bình, cho rằng: Để thực hiện được việc giảm lãi suất trong bối cảnh hiện nay, cần có sự cân đối đồng bộ giữa tăng trưởng tín dụng và khả năng huy động vốn của hệ thống NH. Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi nguồn vốn huy động không đáp ứng tương ứng, áp lực thanh khoản sẽ gia tăng và NH khó có thể giảm lãi suất cho vay một cách bền vững.
"Cần phân biệt 2 vấn đề. Thứ nhất là giảm lãi suất cho vay trên danh nghĩa. Thứ hai là giảm chi phí vay vốn thực tế của DN. Trong một số trường hợp, lãi suất cho vay có thể giảm nhưng các khoản phí, chi phí bảo hiểm và những chi phí liên quan khác lại tăng lên, khiến tổng chi phí vốn DN phải chịu không giảm tương ứng. Vì vậy, bên cạnh điều chỉnh lãi suất, cần kiểm soát hợp lý các khoản phí để bảo đảm DN thực sự được hưởng lợi từ chính sách giảm lãi suất", ông Minh lưu ý.
Theo ông Nguyễn Thế Minh, nếu xét theo điều kiện thị trường, khả năng giảm sâu lãi suất trên diện rộng sẽ gặp nhiều khó khăn. Bởi nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn cao. Đầu tư công đẩy nhanh tiến độ giải ngân, DN sản xuất cần vốn để duy trì và mở rộng hoạt động, trong khi thị trường bất động sản cũng tiếp tục có nhu cầu. Thêm vào đó, chi phí huy động vốn của NH vẫn chịu áp lực. Ngoài tiền gửi, thời gian qua các NH cũng đã thực hiện huy động vốn qua kênh trái phiếu và các nguồn vốn nước ngoài với chi phí đắt đỏ hơn trước. Bởi các nước trên thế giới đã tăng lãi suất nên nguồn vốn huy động từ nước ngoài cũng đã tăng lên so với trước. Chi phí vốn cao nên NH sẽ khó giảm lãi suất cho vay mà vẫn bảo đảm hiệu quả kinh doanh.
Vì thế, khả năng giảm lãi suất cần được nhìn nhận theo từng nhóm khách hàng, từng lĩnh vực và từng NH, thay vì kỳ vọng mặt bằng lãi suất chung sẽ giảm mạnh trong thời gian ngắn. Ông Minh cũng cảnh báo trong bối cảnh chi phí huy động vốn vẫn ở mức cao, việc giảm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên có thể khiến NH phải thận trọng hơn. Những khách hàng có phương án kinh doanh khả thi, dòng tiền ổn định và mức độ rủi ro thấp sẽ có lợi thế tiếp cận vốn với lãi suất phù hợp. Ngược lại, nhóm khách hàng có rủi ro cao hoặc không thuộc diện ưu tiên có thể phải chịu lãi suất cao hơn, điều kiện vay chặt chẽ hơn hoặc hạn mức tín dụng thấp hơn. Tuy nhiên, việc cấp tín dụng vẫn phụ thuộc vào năng lực tài chính và khả năng trả nợ của từng khách hàng.
"Trong ngắn hạn, lãi suất cho vay có thể giảm có chọn lọc ở một số lĩnh vực ưu tiên, nhưng khả năng giảm sâu trên diện rộng vẫn hạn chế nếu chi phí vốn đầu vào chưa hạ nhiệt và nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng cao. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu giảm lãi suất, cần tạo điều kiện để NH đa dạng hóa nguồn vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng, qua đó hỗ trợ DN tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn", ông Nguyễn Thế Minh nhấn mạnh.
Có 3 yếu tố chính cần theo dõi, quyết định khả năng giảm lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm. Thứ nhất là tốc độ tăng trưởng tín dụng so với tăng trưởng huy động vốn. Nếu khoảng cách này tiếp tục lớn, áp lực thanh khoản sẽ khiến việc giảm lãi suất trên diện rộng gặp khó khăn. Thứ hai là khả năng bổ sung nguồn vốn với chi phí hợp lý, bao gồm tiền gửi, phát hành trái phiếu, vay vốn quốc tế và tăng vốn chủ sở hữu. Thứ ba là diễn biến của lãi suất quốc tế, tỷ giá và lạm phát. Các nước hiện tăng lãi suất lên so với trước nhằm kiểm soát lạm phát. Vừa qua, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất và khả năng lãi suất sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. Đây là điểm bất lợi cho việc giảm lãi suất trong nước, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vốn của NH và DN.
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc đầu tư Công ty chứng khoán An Bình










Bình luận (0)