Vì sao nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu bị mù ?
Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) sinh ra tại làng Tân Thôi, H.Bình Dương, Gia Định (nay thuộc TP.HCM). Năm 1843, ông thi đậu tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 1846, ông ra Huế chờ khoa thi Hội, chưa kịp thi thì được tin mẹ mất nên trở về Gia Định chịu tang. Vì khóc thương mẹ, ông lâm bệnh nặng rồi bị mù mắt.

Toàn cảnh di tích quốc gia đặc biệt Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
ẢNH: NAM LONG
Mãn tang mẹ, ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn. Người dân quý trọng gọi ông là "Đồ Chiểu". Một người học trò của ông tên là Lê Tăng Quýnh cảm thương hoàn cảnh, xin cha mẹ gả em gái là Lê Thị Điền cho thầy. Sau đó, ông có 7 người con.
Năm 1859, giặc Pháp chiếm thành Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu về quê vợ ở làng Thanh Ba, H.Cần Giuộc, Long An (nay là tỉnh Tây Ninh). Pháp chiếm Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu về tị nạn tại Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long). Biết ông là người được nhân dân kính trọng và yêu mến, thực dân Pháp dùng mọi cách để mua chuộc, ông cương quyết không hợp tác. Ông sống thanh bần, dùng thơ văn làm vũ khí góp phần động viên cổ vũ nhân dân chống giặc.

Cổng chính vào khu Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
ẢNH: NAM LONG
Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu gồm nhiều thể loại, trong đó thành công nhất là truyện thơ và văn tế bằng chữ Nôm. Các tác phẩm chính của ông gồm: Truyện thơ Lục Vân Tiên; Dương Từ - Hà Mậu; Ngư tiều y thuật vấn đáp; Văn tế nghĩa sĩ chết trận Cần Giuộc, 12 bài thơ điếu Đốc binh Phan Ngọc Tòng, Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (1874)... Thơ văn ông là những áng văn bất hủ, chứa chan lòng yêu nước thương dân, đặc biệt đối với người nông dân tay lấm chân bùn, căm thù giặc ngoại xâm, đồng thời dạy con người đạo nghĩa ở đời. Sau khi ông mất, mộ nằm tại ấp 3, xã An Đức, H.Ba Tri, Bến Tre (nay là xã Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long).
Theo Cục Di sản văn hóa (Bộ VH-TT-DL), Nguyễn Đình Chiểu đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông chiến đấu bằng ngòi bút, hòa mình trong cuộc chiến đấu của nhân dân và trở thành người phát ngôn của phong trào yêu nước chống Pháp.
Chiến đấu bằng ngòi bút
Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ VN đầu tiên nói đến chiến tranh nhân dân, đề cao vai trò người nông dân, trong các cuộc khởi nghĩa chống Pháp với ý thức về nhiệm vụ và quyền lợi của mình, họ cần chiến đấu để bảo vệ "tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo" của chính mình, bảo vệ chủ quyền đất nước thiêng liêng. Trong những tác phẩm của mình, ông ca ngợi tinh thần nghĩa khí và những tấm gương chiến đấu anh hùng của những nghĩa sĩ nông dân.

Nhà bia cụ Đồ Chiểu
ẢNH: NAM LONG
Đối với các lãnh tụ nghĩa quân như Trương Định, Phan Ngọc Tòng..., Nguyễn Đình Chiểu đã dành những lời thơ biểu đạt nghệ thuật, tính trữ tình và anh hùng ca. Ông đã thấy được mối quan hệ giữa lãnh tụ nghĩa quân với quần chúng nhân dân, tình thương của nghĩa quân đối với lãnh tụ cũng như lòng ưu ái của lãnh tụ với nghĩa quân. Đó là quan niệm mới về anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu, rất khác với các quan niệm phong kiến về trung quân ái quốc trước đó.
Để ghi nhớ công ơn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, năm 1972, chính quyền và nhân dân đã xây dựng lăng mộ ông với diện tích 84 m2 tại ấp 3, xã An Đức, H.Ba Tri, Bến Tre (nay là xã Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long). Công trình gồm 2 tầng mái, lợp ngói âm dương màu nâu, tường gạch, nền lát gạch bông theo kiến trúc truyền thống. Trên nóc trang trí hoa văn rồng - mây cách điệu. Chính giữa có bàn thờ bằng bê tông dán gạch men. Đến năm 2000, Bộ VH-TT (nay là Bộ VH-TT-DL) và UBND tỉnh Bến Tre (cũ) đầu tư mở rộng di tích Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu lên hơn 14.000 m2, bao gồm các hạng mục chính: nhà bia, đền thờ mới, đền thờ cũ, khu mộ.

Di tích Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt
ẢNH: NAM LONG
Trong đó, nhà bia có kết cấu bê tông cốt thép, cao 12 m có hai tầng mái dán ngói, nền lát gạch men. Mặt ngoài đắp nổi hoa lá cách điệu, mặt trong đắp nổi tứ linh. Đỉnh mái đắp nổi biểu tượng bút lông. Chính giữa là tấm bia bằng đá xanh nguyên khối (2,65 x 2,7 x 1,8 m). Mặt trước khắc bài văn bia ca ngợi công đức của Nguyễn Đình Chiểu, mặt sau khắc tóm tắt tiểu sử của ông.
Đền thờ mới cao 21 m, dựng bằng bê tông cốt thép theo hình tròn, nền lát gạch ceramic, mái đổ bê tông dán ngói âm dương màu xanh lá, trên các cửa ra vào trang trí đắp nổi một số hoa văn cách điệu như: hoa sen, cuốn thư, ngòi bút, hoa lá... Trên trần trang trí hoa văn trống đồng đắp nổi. Đền thờ gồm 2 tầng với 3 tầng mái. Tầng dưới trưng bày một số hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, một số đoàn khách nước ngoài, nhân dân trong nước đến thăm viếng. Tầng trên đặt tượng Nguyễn Đình Chiểu bằng đồng cao 1,6 m, nặng 1,2 tấn. Trên 4 cột ở tứ trụ có 4 liễn áp cột bằng gỗ chạm trổ hoa văn tinh xảo, trong đó có hai câu thơ của ông trong tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà".
Với giá trị lịch sử, văn hóa đặc biệt, năm 2016, di tích Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.
Bình luận (0)