
Vấn đề thu phí bản quyền âm nhạc từ nhà hàng, quán cà phê... thu hút sự quan tâm của công chúng trong thời gian qua
ẢNH: T.H
Chia sẻ với Thanh Niên, luật sư Phan Vũ Tuấn (Văn phòng Luật sư Phan Law) cho biết Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đều xây dựng cơ chế thu tiền bản quyền âm nhạc dựa trên nguyên tắc bảo hộ quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Theo Công ước Berne mà Việt Nam là thành viên và luật Sở hữu trí tuệ, quyền biểu diễn hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng là quyền tài sản của chủ sở hữu. Vì vậy, khi quán cà phê, nhà hàng hay các cơ sở kinh doanh sử dụng âm nhạc để phục vụ khách, họ phải xin phép và trả tiền bản quyền.
"Việc mua đĩa nhạc hoặc đăng ký các dịch vụ nghe nhạc như Spotify, Apple Music hay YouTube Music chỉ cho phép sử dụng vào mục đích cá nhân, không đồng nghĩa với việc được khai thác âm nhạc trong hoạt động kinh doanh. Khi quán cà phê hoặc nhà hàng phát nhạc để phục vụ khách, chủ cơ sở vẫn phải xin phép và trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu hoặc tổ chức đại diện quyền", luật sư Phan Vũ Tuấn lưu ý.
Theo ông, tại hầu hết các quốc gia, việc cấp phép và thu tiền bản quyền đều được thực hiện thông qua các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả nhằm bảo đảm quyền lợi cho người sáng tạo.
Tuy nhiên, mỗi nước lại có cách xác định đối tượng phải trả phí, phương thức tính phí cũng như cơ chế quản lý và phân phối tiền bản quyền khác nhau. Vì vậy, việc đặt quy định của Việt Nam trong tương quan với kinh nghiệm quốc tế sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về tính hợp lý của chính sách hiện hành cũng như những điểm cần tiếp tục hoàn thiện.
Luật sư Phan Vũ Tuấn cũng nhấn mạnh nghĩa vụ trả tiền bản quyền khi sử dụng âm nhạc trong hoạt động kinh doanh không phải là quy định mới, mà đã được ghi nhận từ lâu trong Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành. "Vấn đề chỉ thực sự thu hút sự quan tâm thời gian gần đây do có sự điều chỉnh về cơ chế tính, phân chia tiền bản quyền và mức thu theo lương cơ sở mới, áp dụng từ ngày 1.7.2026", ông nói.
Việt Nam và các nước có cơ chế tính tiền bản quyền ra sao?

Các nước có cách tính phí bản quyền âm nhạc đối với nhà hàng, quán cà phê, bar, pub...
ẢNH: T.H
Về cơ chế tính phí, luật sư Phan Vũ Tuấn cho biết pháp luật hiện hành (Phụ lục II Nghị định 17/2023/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 134/2026/NĐ-CP) quy định công thức tính khá cụ thể, không cho phép thu phí tùy tiện.
"Số tiền bản quyền phải trả trong một năm được xác định bằng mức lương cơ sở nhân với hệ số điều chỉnh, sau đó áp dụng tỷ lệ phần trăm tương ứng theo từng loại đô thị. Riêng hoạt động hàng không và giao thông công cộng được tính theo lượt khách trung bình hằng năm. Đặc biệt, pháp luật vẫn ưu tiên sự thỏa thuận giữa các bên; chỉ khi không đạt được thỏa thuận mới áp dụng biểu mức quy định", ông phân tích.
Theo luật sư Phan Vũ Tuấn, nhiều quốc gia cũng áp dụng cách tính tương tự Việt Nam khi xác định mức phí đối với quán cà phê, nhà hàng dựa trên diện tích cơ sở kinh doanh được cấp phép, như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đức.
Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng lấy diện tích làm căn cứ tính phí. Nhiều nước lựa chọn các tiêu chí linh hoạt hơn để phản ánh mức độ khai thác âm nhạc trong hoạt động kinh doanh.
Chẳng hạn, Anh kết hợp diện tích với số lượng loa và hệ thống âm thanh; Singapore tính phí theo số lượng ghế ngồi theo cơ chế lũy tiến, đồng thời thu thêm phụ phí đối với màn hình trình chiếu; còn Thái Lan áp dụng mức phí khoán theo quy mô chỗ ngồi của từng loại hình kinh doanh.
"Điều này cho thấy, dù cùng hướng đến mục tiêu bảo hộ quyền tài sản của tác giả, mỗi quốc gia lại có cách xác định mức phí bản quyền khác nhau, thường gắn với quy mô và mức độ khai thác âm nhạc thực tế của cơ sở kinh doanh", luật sư Phan Vũ Tuấn nhận định.
Khác biệt về tổ chức thu

Một nhà hàng ở trung tâm TP.HCM
ẢNH: T.H
Liên quan đến cơ chế cấp phép và thu tiền bản quyền, luật sư Phan Vũ Tuấn cho biết Luật Sở hữu trí tuệ quy định chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan có quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác khai thác, sử dụng có thời hạn một phần hoặc toàn bộ quyền tài sản thuộc phạm vi bảo hộ. Việc cấp phép này thường được thực hiện theo hai hình thức: thông qua hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan hoặc thông qua tổ chức quản lý tập thể quyền.
"Nói cách khác, về nguyên tắc, quyền cấp phép sử dụng bài hát (bao gồm tác phẩm âm nhạc và bản ghi âm của tác phẩm đó) thuộc về các chủ thể quyền. Tuy nhiên, quyền này có thể được ủy quyền hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác quản lý và khai thác theo thỏa thuận", luật sư Phan Vũ Tuấn giải thích.
Theo ông, trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều tổ chức việc cấp phép và thu tiền bản quyền thông qua các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan (Collective Management Organization - CMO). Điểm khác biệt chủ yếu nằm ở số lượng tổ chức, phạm vi đại diện và cơ chế cấp phép.
Tại Việt Nam, việc cấp phép và thu tiền bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc chủ yếu do Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) thực hiện, còn quyền đối với bản ghi âm, ghi hình chủ yếu do Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV) quản lý.
Trong khi đó, tại Nhật Bản và Singapore, việc cấp phép và thu phí chủ yếu được thực hiện thông qua một tổ chức quản lý tập thể quyền, giúp các cơ sở kinh doanh chỉ cần làm việc với một đầu mối duy nhất.
Ngược lại, Mỹ áp dụng mô hình có nhiều tổ chức quản lý quyền biểu diễn công cộng (Performance Rights Organization - PRO), như ASCAP hay BMI. Mỗi tổ chức đại diện cho một danh mục tác phẩm khác nhau, vì vậy các cơ sở kinh doanh có thể phải mua giấy phép từ nhiều tổ chức để bảo đảm quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ kho nhạc mà mình khai thác.
Bình luận (0)