Bức tranh sôi động nhưng đầy thách thức
Triển khai đề án "Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045" (Đề án) do Chính phủ công bố hồi tháng 10.2025, nhiều địa phương bắt đầu có những kế hoạch cụ thể từ năm học này. Chẳng hạn, Hà Nội thí điểm đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai ở 20 trường, phủ đủ cấp học và chia theo 3 mức độ. Trong khi TP.HCM triển khai thí điểm tích hợp tiếng Anh ở cấp mầm non từ năm học này.

Các nhà giáo tham dự buổi tham vấn xây dựng “Khung phát triển chuyên môn giáo viên VN”. Đây là khung dành cho cả giáo viên tiếng Anh và những thầy cô sắp phải dạy các môn học khác bằng tiếng Anh
ẢNH: NGỌC LONG
Tương tự, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Hải Phòng, Cần Thơ... cũng đã ban hành kế hoạch triển khai Đề án, với mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành công cụ giao tiếp, học tập, quản lý... trong môi trường giáo dục, giúp người học không chỉ học tiếng Anh mà còn dùng tiếng Anh ngay ở trường. Nhiều ĐH trên cả nước chung xu thế, cho thấy một bức tranh sôi động nhưng cũng đầy thử thách với thầy cô dạy bộ môn, chuyên ngành ngoài tiếng Anh.
Xây dựng khung phát triển chuyên môn
Để tiếp sức công cuộc phát triển đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn mới, Viện Chiến lược và chính sách giáo dục hồi tháng 8 phối hợp với Ban Quản lý Đề án Ngoại ngữ quốc gia, Cục Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD-ĐT), Hội đồng Anh tại VN tổ chức tham vấn xây dựng "Khung phát triển chuyên môn giáo viên (GV) VN" (TPDF). Đây là khung dành cho cả GV tiếng Anh và những thầy cô sắp phải dạy các môn học khác bằng tiếng Anh.

Năm học này, nhiều địa phương triển khai đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045” do Chính phủ công bố hồi tháng 10.2025
ẢNH: NHẬT THỊNH
Ông Đỗ Đức Lân, Trưởng phòng Hợp tác quốc tế, Viện Chiến lược và chính sách giáo dục, cho biết TPDF được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, đối sánh quốc tế, khảo sát hơn 2.150 GV... Dự thảo đề xuất 6 lĩnh vực năng lực: Định hướng nền tảng và giá trị; phán đoán và ra quyết định chuyên môn thích ứng; kiến thức chuyên môn và ngôn ngữ; thực hành sư phạm; ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI); tự chủ nghề nghiệp và dẫn dắt đổi mới.
Ở từng lĩnh vực, khung chia làm 3 nhánh là năng lực cốt lõi chung, năng lực cho GV tiếng Anh và năng lực cho GV dạy những môn học khác bằng tiếng Anh, cùng lộ trình phát triển chuyên môn thường xuyên theo 4 cấp độ. "Khung phát triển chuyên môn giúp GV soi chiếu và phản tư về lộ trình nghề nghiệp của bản thân, nhất là với một lĩnh vực rất mới là dạy các môn học khác bằng tiếng Anh", ông Lân chia sẻ với Thanh Niên.
Theo ông Lân, điều quan trọng là tạo dựng nên một môi trường để GV có thể trau dồi năng lực dạy bộ môn bằng tiếng Anh, hơn là đánh giá GV hay đặt ra các tiêu chí lượng hóa cụ thể. Đó là lý do từng năng lực trong khung được dự kiến chia theo 4 cấp độ là nền tảng, phát triển, thành thạo, dẫn dắt chuyên môn thay vì theo 3 mức đạt, khá, tốt như Khung năng lực GV ngoại ngữ VN trước đây.
Tiến sĩ Phạm Tuấn Anh, Phó cục trưởng Cục Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD-ĐT), cho rằng việc nghiên cứu xây dựng TPDF có ý nghĩa quan trọng, góp phần hoàn thiện các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV. Ông nhận định, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để Bộ GD-ĐT tiếp tục tham mưu và xây dựng các chính sách phát triển đội ngũ trong giai đoạn mới.
Ông cho biết trong năm 2026, Bộ GD-ĐT đã và đang phối hợp với các sở GD-ĐT khảo sát năng lực tiếng Anh của tất cả GV không dạy môn tiếng Anh trên toàn quốc, dựa theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho VN. Việc khảo sát không nhằm mục đích đánh giá hoặc xếp loại GV mà để xác định tình hình thực tế, từ đó giúp Bộ GD-ĐT có đủ căn cứ xây dựng chương trình bồi dưỡng phù hợp theo từng nhóm đối tượng trong thời gian tới.

PGS Daniel Xerri, chuyên gia tư vấn từ Tổ chức TELT (Anh), trong phiên làm việc với các nhà giáo tại buổi tham vấn xây dựng “Khung phát triển chuyên môn giáo viên VN”
ảnh: Ngọc Long
Lời khuyên của chuyên gia quốc tế
Để thành công đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, PGS Daniel Xerri, chuyên gia tư vấn từ Tổ chức TELT (Anh), nhận định yếu tố quan trọng nhất là đầu tư bền vững và lâu dài cho đội ngũ GV, chứ không chỉ dừng ở việc tăng số tiết học hay thay đổi chương trình giáo dục. "Đội ngũ GV phải có trình độ tiếng Anh cần thiết, kiến thức sư phạm, nguồn lực hỗ trợ và cơ hội phát triển chuyên môn thường xuyên", ông nói.
PGS Xerri thông tin, việc phát triển đội ngũ phải gắn với thực tế lớp học cũng như đáp ứng những xuất phát điểm khác nhau của từng thầy cô. Do đó, các khóa đào tạo quy mô lớn có thể giúp phổ biến cho GV biết những ưu tiên của quốc gia. Song để tạo ra thay đổi lâu dài, thầy cô cần nhận được sự hỗ trợ liên tục ngay trong cơ sở giáo dục và các cộng đồng chuyên môn tại địa phương.
Theo ông, với nhóm GV tiếng Anh hiện nay, hướng đi phù hợp là hỗ trợ thầy cô tăng cường dạy tiếng Anh giao tiếp, gắn với bối cảnh đời sống. Còn với nhóm GV bộ môn, các thầy cô cần được hỗ trợ giải thích khái niệm chuyên môn, cung cấp các bước để học sinh (HS) tiếp cận ngôn ngữ học thuật, đánh giá đồng thời kiến thức môn học và năng lực giao tiếp... "Cần xác định là mỗi nhóm đều có những nhu cầu rất khác nhau", PGS Xerri lưu ý.
GV cũng cần được tham gia vào việc đánh giá quá trình triển khai chính sách. Phản hồi từ thầy cô có thể cho thấy chính sách đang phát huy hiệu quả ở đâu hay tạo ra những khó khăn nào, từ đó xác định cần bổ sung hình thức hỗ trợ gì. "Khi GV được coi là đối tác trong quá trình cải cách thay vì chỉ là người thực hiện, cả sự cam kết nghề nghiệp của thầy cô lẫn tính bền vững của chính sách đều được củng cố", ông khẳng định.

GS Sender Dovchin trình bày bài tham luận về việc linh hoạt chuyển ngữ trong lớp học tiếng Anh
ảnh: Ngọc Long
Theo GS Sender Dovchin, ĐH Curtin (Úc), khi đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, VN cần tránh xem đây đơn thuần chỉ là câu chuyện nâng cao năng lực tiếng Anh cho GV. Thực tế, thầy cô cần phát triển đồng thời sự tự tin trong sử dụng ngôn ngữ cũng như năng lực sư phạm để dạy hiệu quả môn học của mình bằng tiếng Anh. "Đây là 2 năng lực có liên quan song không hoàn toàn giống nhau", GS Dovchin chia sẻ với Thanh Niên bên lề hội thảo về giảng dạy tiếng Anh do trường này phối hợp tổ chức với Trung tâm SEAMEO RETRAC.
Để quá trình giảng dạy mượt mà, nữ chuyên gia khuyến khích thầy cô sử dụng chuyển ngữ linh hoạt (translanguaging), tức dùng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh để hỗ trợ HS hiểu bài thay vì chỉ dùng mỗi tiếng Anh. Chẳng hạn, GV có thể giới thiệu khái niệm phức tạp bằng tiếng Anh, giải thích những nội dung khó hiểu bằng tiếng Việt, sau đó quay lại tiếng Anh để thảo luận hay vận dụng khái niệm đó.
"Đây không là dấu hiệu cho thấy việc dạy bằng tiếng Anh thất bại. Ngược lại, cách tiếp cận này thừa nhận rằng HS có thể khai thác toàn bộ vốn ngôn ngữ như một nguồn lực phục vụ việc học", GS Dovchin lý giải. "Quan trọng nhất, GV không nên thấy rằng mình phải dùng tiếng Anh hoàn hảo trước khi có thể đưa ngôn ngữ này vào lớp học. Bởi sự tự tin được hình thành thông qua quá trình thực hành có hỗ trợ và những trải nghiệm thành công", GS Dovchin chia sẻ.
Ông Davide Guarini Gimartin, quản lý cấp cao học thuật ở Ban Tiếng Anh và giáo dục phổ thông, Hội đồng Anh tại VN, gợi ý các bên liên quan có thể tổ chức nhóm hoạt động chuyên môn của GV (TAGs), một mô hình phát triển chuyên môn thường xuyên đã chứng minh là mang lại nhiều lợi ích cho hàng trăm thầy cô sau nhiều năm triển khai thí điểm tại các tỉnh, thành VN, cả ở khu vực trung tâm và những địa phương vùng sâu, vùng xa.
Về căn bản, đây là mô hình nơi các thầy cô tự chủ động tập hợp lại với nhau, hoặc dưới sự dẫn dắt của cán bộ quản lý giáo dục, nhằm giải quyết những vấn đề bản thân gặp phải trong thực tiễn giảng dạy. Phụ trách hoạt động điều phối là chính GV, song song đó có thể có sự hỗ trợ từ các chuyên gia. "Sau thời gian thí điểm, một số địa phương đang muốn nhân rộng mô hình này trên toàn tỉnh", ông Gilmartin thông tin.
Cần xem xét yếu tố hỷ lạc của GIÁO VIÊN
Thảo luận trong tọa đàm "Tương lai của tiếng Anh ở Việt Nam: Câu chuyện giáo dục, chính sách và thời đại" diễn ra hồi tháng 7 ở Trường ĐH Sư phạm, ĐH Đà Nẵng, các chuyên gia đều nhất trí rằng hỷ lạc (wellbeing) của GV là khía cạnh cần nghiêm túc quan tâm khi triển khai Đề án. Bởi lẽ, trước đây trong quá trình triển khai Đề án Ngoại ngữ quốc gia, thực tế ghi nhận nhiều GV đã chịu ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý, thể chất, thậm chí gặp sang chấn.
"Chúng ta phải làm sao để GV thấy yêu nghề, yêu trò, yêu chính mình. Từ đó, thầy cô mới có động lực tự học, trau dồi chuyên môn", PGS Lê Văn Canh, nhà nghiên cứu độc lập hiện công tác tại Hà Nội, nêu quan điểm.
Bình luận (0)