"Tam nhân đồng hành…"
Dù trong môi trường nào thì cũng có những người rất thân với nhau hơn những người khác. Đó là trường hợp của Thân Trọng Bình, Nguyễn Thanh Sinh và tôi.
Năm 1974, đơn vị hành quân từ đơn vị huấn luyện ở Long Đại (Quảng Bình), khi thì bằng Zin 130, khi thì đi bộ qua từng binh trạm. Sau thì đóng quân bên thác Ma-ka-muổng (khu vực Stung Treng, Campuchia).
Ba của Thân Trọng Bình là người Thừa Thiên tập kết ra Bắc, ở Đồng Hới. Nhờ ông mà Bình biết rất nhiều thứ, võ thuật, guitar, mandolin. Tôi và Sinh ở quê nên chưa từng biết những thứ đó.
Tuổi trẻ, một phần tò mò, một phần đam mê nên trở thành học trò của Bình. Như người ta thường nói "Tam nhân đồng hành tất hữu ngả sư yên" (có nghĩa là trong 3 người cùng đi, ắt có 1 người là thầy của ta). Rỗi là học đàn, đêm đến sau điểm danh thì về bãi cát bên sông Sê Kông (đoạn cuối đổ vào Mê Kông) luyện võ, phóng dao. Đam mê nên học rất nhanh.
Lần hội diễn đầu tiên trong bộ đội, 3 đứa thành một tốp ca, hát bè khá ổn nên được chọn đi diễn nhiều nơi.
Sinh có giọng hát rất hay, Bình thì chơi classic điêu luyện nên 3 đứa hẹn ngày hòa bình, ra quân thì thi vào âm nhạc. Nhưng sau đó tôi và Sinh đều vào trường quân sự, Bình ra quân trước.

Thân Trọng Bình (phải)
Ảnh tư liệu cá nhân
Khi về Huế, người đầu tiên tôi tìm là Thân Trọng Bình. Bình vào Trường Nghệ thuật Huế, học xong được giữ lại trường rồi ra Hà Nội làm thạc sĩ lý luận, sáng tác, chỉ huy.
Tôi cũng ra quân về Huế học. Chủ nhật nào Bình cũng rủ tôi luyện võ. Nhờ thế mà 2 đứa vẫn khăng khít như hồi bộ đội, chuyện gì cũng kể với nhau. Vì luyện nhu đạo nên tay chơi đàn của Bình vẫn thon dài.
Bình lấy vợ trước tôi. Cuộc đời cậu ấy tưởng đã ổn, không ngờ vài năm sau, đi khám, người ta phát hiện Bình bị tiểu đường nặng, phổi đã trắng 2/3. Bình mất sau đó ít lâu để lại 2 người con, một người sau bị trầm cảm nặng rồi tự ra đi.
Không biết có phải di chứng chất độc màu da cam hay không nhưng tôi ám ảnh mãi những cánh rừng trụi lá mà đơn vị đi qua.
Nguyễn Thanh Sinh vào trường sĩ quan. Trong lần đơn vị từ biên giới phía Bắc về, chiếc xe tải chở Sinh bị tai nạn bốc cháy. Khi tôi xin được nghỉ về Bệnh viện 108 thấy Sinh bị băng trắng từ đầu đến chân. Cậu ấy bị bỏng toàn thân nên không qua được. Khi tôi tìm đến người nữ sinh hoa khôi mà cậu ấy thích và cũng thích cậu ấy mới biết, cô ấy làm trong ngành công an, vẫn đau đáu về mối tình đầu. Mãi sau, gần 40 tuổi cô ấy mới lấy chồng.
Hai người bạn tôi, chiến tranh không hề hấn gì nhưng lại ra đi giữa thời bình.

Nguyễn Thanh Sinh (trái)
Ảnh tư liệu cá nhân
Đồng đội vẫn lạc nhau
Lúc ở Stung Treng, Campuchia, trong tiểu đoàn có 2 anh lớn tuổi cực kỳ thân thiết.
Anh Lưu Đình Kim vốn là thủy thủ viễn dương, quê ở Hạnh Phúc, Duyên Hải, Đồ Sơn, Hải Phòng, lúc bấy giờ là trung đội trưởng.
Dù là liên lạc đại đội, không liên quan đến trung đội anh nhưng sau những chuyến đi thuyền máy vận chuyển lương thực, vũ khí từ Lào qua Campuchia xuống đồng bằng sông Cửu Long về nghỉ bao giờ anh cũng chạy đến chỗ tôi trước tiên. Câu đầu tiên hỏi là "có còn bị sốt nữa không?".
Tôi học được từ anh rất nhiều điều. Nhiều kỹ năng để sống sót. Đến nay, tôi vẫn nhớ tên người yêu anh hồi đó.
Sau giải phóng, anh phục viên về làm thủy thủ viễn dương, tôi đi học học viện, có viết thư cho anh mấy lần, anh có hồi âm sau đó thì bị mất liên lạc hẳn.
Một người nữa là anh Quyết ở Lê Chân, Hải Phòng (không nhớ họ của anh, cũng quên địa chỉ nhà, tên đường). Anh ở D64. Trai thành phố nhưng rất giỏi. Anh dạy chúng tôi cách đi trong rừng khộp khỏi lạc, cách tìm nguồn nước, cách ẩn thân khi phát hiện có địch…
Tôi được điều lên đại đội vệ binh ở sư đoàn bộ đi theo thủ trưởng liên miên, về đơn vị anh tìm thì nghe nói anh đã chuyển đơn vị. Từ đó mất liên lạc.
Hòa bình rồi bận chuyện học hành, mà học trường quân đội nên cũng không có thời gian, Hải Phòng hơi trái đường đi nên chưa có điều kiện về tìm.
Hồi Blog 360, tôi có viết lên đó thông tin tìm người rồi nhờ một người bạn ở Phòng Tham mưu Sư 471 (ở trong doanh trại cùng phòng với tôi và anh Ngô Văn Dụ, anh Dụ sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương), là Lương Văn Thản ra quân về Sở Văn hóa Hải Phòng nhưng Thản ở đơn vị sau không biết 2 anh. Thản cũng tìm nhưng vẫn chưa thấy.
Ngoài những người ngã xuống trên chiến trường thì nhiều người, chiến tranh không hề hấn gì nhưng lại ra đi giữa thời bình. Chúng tôi tìm nhau là để nương tựa vào nhau, giúp đỡ nhau, vật chất không nhiều nhưng ít nhất là về tinh thần. Lứa tuổi nhập ngũ 1974 nay cũng đã 70 rồi.

Nhận diện Trôổng Dỏ
ẢNH: N.T.T
Trôổng là con đường nối từ sông, nơi có đường Bến, ra đồng, nơi có đường Quan. Nó còn là một khu dân cư như khu phố. Trôổng Dỏ này có 3 người nhập ngũ một ngày, 5.6.1974.
Dỏ là một từ Việt cổ, có nghĩa dòm dỏ - chỉ nơi có cái tháp đứng để canh.
Làng Lộc An có nhiều địa danh cổ như thế này.
Năm trước, chúng tôi cách điệu thành cái cổng như hình. Trên đề Trôổng dỏ - Làng Lộc An.
Sau thì đánh số nhà (sau khi thống nhất với cán bộ địa phương). Không phải cho ra vẻ thành phố mà vì để tiện cho cuộc sống.
Nhà nào gọi taxi, gọi chở vật liệu, mua thứ gì đó như tivi, tủ lạnh... mà họ chở về cho thì chỉ cho nhanh. Thay vì lâu nay chạy ra chờ để đón dẫn vào nhà. Bây giờ, hầu hết đều đã có số nhà. Rất tiện.
Cái gì giúp thiết thực cho cuộc sống thì làm. Đó cũng chính là tinh thần Bộ đội Cụ Hồ.
Bình luận (0)