Trương Vĩnh Ký là con người của Nho học, muốn lấy giá trị đạo đức của Khổng Mạnh răn dạy thế hệ trẻ. Tưởng cũng nên nhắc lại chuyện bác sĩ Léon Gautier có gặp Trương Vĩnh Ký nhân dịp ông sang Pháp theo phái đoàn Phan Thanh Giản.

Thầy giáo dò bài học sinh Quốc văn giáo khoa thư
ẢNH: TƯ LIỆU LÊ MINH QUỐC
Sau đây là những tường thuật của bác sĩ Léon Gautier: "Một hôm, trong thư viện, chúng tôi, một số lớn nhân viên ở tại Á châu Hội đã đàm luận sôi nổi cùng với Trương tiên sinh về vấn đề giáo dục hai chân trời để tìm những giải pháp dung hòa làm sao để sao cho hai phương pháp được thích ứng. Cuộc họp mặt đó, Trương tiên sinh đã tỏ rõ tài bác học của mình. Tôi hỏi:
- Tôi vẫn nghe rằng trong suốt lịch sử Đông phương có nhiều thiên truyện bàn về giáo dục rất thâm thúy và cao sâu. Ngài có thể trình bày cho tôi rõ phương pháp và tài liệu giáo huấn như thế nào?
Ông tươi cười, mắt đầy tin tưởng và hứng khởi mà đáp lại lời ấy rằng:
- Đúng thế! Đúng thế đấy! Trong phương pháp giáo dục thiếu nhi của Đông phương luôn chú trọng đến hứng khởi. Chẳng hạn đoạn thơ ngắn sau đây của Bá Thuần Trình Hiệu trong tập Minh đạo gia huấn đã được phổ thông trong các trường học ở Trung Hoa và Việt Nam từ xưa, thì cũng đủ rõ:
Nghèo mà không nịnh
Giàu mà không kiêu
...
Trước tự trách mình
Rồi sau trách người
Ngậm máu phun người
Trước bẩn miệng ta
...
Trữ thiện gặp thiện
Trữ ác gặp ác
Gần son thì đỏ
Gần mực thì đen
...
Chỉ lo không có tài
Chẳng lo không được dùng
...
Những câu văn đối đáp nhau chặt chẽ, vận dụng âm điệu và nhất là nhờ cú pháp ngắn cho nên ai ai cũng ham đọc, ham hiểu. Tuy rằng nó không hoàn toàn giống như lối thơ của La Fontaine, nhưng nó vẫn giữ được những tính chất khéo léo và độc đáo của nó. Mỗi loại có một tính chất riêng biệt: Thơ ngụ ngôn của thi hào La Fontaine thì nhắm về lối hứng thú hoạt kê, dùng những mẫu sinh hoạt của loài vật để nhân cách hóa lên. Còn như tập Minh đạo gia huấn của ông Bá Thuần Trình Hiệu thì có tính chất cách ngôn và sắc bén, gẫy gọn hơn, dù khô khan nguyên tắc thật đấy, nhưng vẫn được các em học sinh thích thú vô cùng vì âm điệu, bút pháp đẹp đẽ và êm đềm, linh động, uyển chuyển, đặc biệt của nó. Cũng đừng nên so sánh quá gò bó khi so sánh hai tác phẩm có hai dụng ý không giống như nhau...

Trương Vĩnh Ký
ẢNH: TƯ LIỆU LÊ MINH QUỐC
Trình bày đến đây thì đôi mắt của tiên sinh tươi sáng hẳn lên, đầy vẻ tin tưởng và hăm hở vô cùng" (Trương Vĩnh Ký 1837 - 1898 - Khổng Xuân Thu - NXB Tân Việt -1958).
Chính vì quan niệm như thế nên hầu hết các sách giáo khoa chữ Hán của học trò thuở xưa như Tam tự kinh, Minh tâm bửu giám, Hiếu kinh diễn nghĩa, Đại học... đều được Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ Quốc ngữ. Dấu ấn của Trương Vĩnh Ký để lại trong tâm trí thế hệ học trò thuở ấy không phải là nhỏ.
Cùng thời với Trương Vĩnh Ký và sau đó, còn có nhiều nhà giáo cũng tích cực biên soạn sách giáo khoa: Trương Minh Ký (1855 - 1900, hiệu Mai Nham, tự Sĩ Tải) cộng tác thường xuyên với Gia Định Báo giai đoạn 1881 - 1897. Ông đã biên soạn các tập sách giáo khoa như Tập dạy học tiếng Phansa và tiếng An Nam (1892), Ấu học khải mông (1892), Hiếu kinh diễn nghĩa (1893), Tiểu học gia ngôn diễn nghĩa (1896), Cổ văn chơn bửu (1896), Tiểu học gia ngôn (1896), Hán học tân lương (1899)...
Ta cũng không thể quên các ông Trần Phong Sắc, Huình Tịnh Của... Đặc biệt Trần Phong Sắc đã biên soạn quyển Ấu viên tất độc (1924) để dạy cho các học trò nữ: "Các trò nữ, đừng nhượng chí trai, vì trai gái cũng vậy, bền chí dày công thời hơn, việc chi người làm đặng, thời mình phải đặng", trong sách có chữ Hán, kèm theo phiên âm và dịch nghĩa. Chẳng hạn, đây là nội dung bài học thứ 88 có tựa là Trung:
Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành
Lời nói ngay, tuy trái tai,
mà lợi nơi việc làm
Người hỏi con mình phải nói ngay
Thuốc hay đắng miệng để ơn dày
Chẳng nên vị mặt buông lời nịnh
Mật miệng gươm lòng hổ thẹn thay
Và chúng ta còn phải kể đến một số nhà giáo cũng đã biên soạn các tập sách giáo khoa khác. Trước hết xin giới thiệu quyển Morale pratique à l'usage des élèves des Écoles de l'Indochine (Đạo đức thực hành dùng (dạy) cho học trò các trường ở Đông Dương). Phía trên có ghi dòng chữ bằng tiếng Hán là Phong hóa thực hành. Sách này khổ 15 x 24 cm do ông J.C.Boscoq - giáo sư ngôn ngữ phương Đông - biên soạn với sự cộng tác của ông Nguyễn Văn Tâm - giáo sư trường trung học Mỹ Tho. Sách do Imprimerie de l'Union (157 đường Catinat, Sài Gòn) xuất bản năm 1914. Trong sách gồm 108 bài tập đọc, cuối mỗi bài đều có câu kết luận: "Sách có câu rằng:" hoặc "Tục thường nói rằng:" với một câu chữ Hán có phiên âm, dịch nghĩa và kết thúc một bài học là phần "Bài tập đối đáp". (còn tiếp)
Bình luận (0)